1 tuần sau khi thành lập nước Đại Việt, công việc cuối cùng đâu vào, dân chúng thành Bắc, nhầm là Uy viễn thành không có âm thanh nào về việc phản đối lập quốc của Minh Hà, sau khi Minh Hà còn tung ra chính sách phát đất cho nông dân thì sự ủng hộ của dân chúng dành cho Minh Hà cũng lớn hơn
Còn có Hứa gia là gia tộc lớn của Bắc uyên thành trước đây cũng đến bái phỏng và dâng lên vàng bạc châu báu để đổi lại sự xem trọng của Minh Hà, Minh Hà cũng không quá để ý điều này mà nói với Hứa gia là sắp tới sẽ có một nghề mới ra đời, lúc đó sẽ thông báo cho Hứa gia tham gia xem xét có tham gia hay không
Lúc này Minh Hà cũng đi đến chiêu binh điện để triệu hồi lần nữa
“Tinh, ký chủ xác nhận sử dụng lược triệu hồi”
“Xác nhận”
“Tinh, bắt đầu triệu hồi, triệu hồi thành công 1 vạn quân tây sơn”
Lúc này 1 vạn quân tây sơn bước ra từ Chiêu Binh Điện lập tức quì xuống hô to
“Tây sơn quân, tham kiến Bệ hạ”
“Mọi người đứng lên đi, nếu đã đến rồi hãy góp sức cùng nhau xây dựng một Đại Việt hùng mạnh ở thế giới này”
“Chúng thần, thề chết đi theo Bệ hạ”
Sau đó Minh Hà giao 1 vạn quân tây sơn cho Cao Lỗ, còn cậu thì cắm đầu vào kiến xưởng luyện Đồng, Bạc, Vàng
Mà mỏ vàng Minh Hà kiếm được lại là Mỏ vàng có độ Au là 97% cao nhất hắn từng biết
Lúc này Minh Hà và một vài thợ rèn trong thành bắt đầu quá trình đúc vàng đồng tiền vàng và thỏi vàng
Lúc này Minh Hà trực tiếp cho quặng vàng vồi lò nung cùng với gỗ Betula schmidit vào làm chất trợ dung và dùng tre guada làm nhiên liệu
Tại sao Minh Hà lại cho gỗ Betula schmiditi vào chất trợ dung là vì
Loại gỗ này:
Rất đặc (dense hardwood)
Cháy tạo tro khoáng cao
Ít nhựa → không sinh nhiều tạp bay hơi
Tro giàu kali → giúp phá oxit sắt và silica bám trên vàng
Khi cho một lớp tro mịn phủ lên vàng đang nung:
✔ Tro sẽ kết hợp với tạp chất → tạo xỉ nhẹ
✔ Carbon trong than giúp môi trường khử → hạn chế oxy hóa bạc và đồng vết
✔ Vàng chảy “êm” hơn so với nung trần
Và tre guada thì có nhiệt lượng vô cùng cao và điểm tốt của nó còn có
Tre Guadua có đặc tính cực kỳ tốt cho lò luyện thủ công:
Cháy rất nhanh và nóng
→ Nhiệt độ có thể đạt 1000–1100°C (đủ để nấu vàng).
Tạo than sinh học xốp
→ Hoạt động giống than củi cao cấp.
Hàm lượng silica tự nhiên trong tre
Khi cháy tạo:
Tro chứa SiO₂ mịn
→ kết hợp với potash từ gỗ tạo xỉ silicat kiềm
→ đây chính là dạng xỉ luyện kim cổ điển.
Vì dùng gỗ Betula schmiditi làm chất trợ dung, và dùng tre guada làm nhiên liệu và điều quan trọng nhất là quặng vàng 97% làm giảm thời gian đáng kể cho giai đoạn nung luyện
quặng Au ~97%, dùng tre Guadua làm nhiên liệu và có bổ sung gỗ Betula schmidtii như một nguồn tro khoáng hỗ trợ tách xỉ), thì thời gian nung – luyện – đúc sẽ khá nhanh so với luyện quặng thông thường, vì gần như không còn giai đoạn hoàn nguyên kim loại.
Dưới đây là ước tính thực tế theo kỹ thuật luyện kim cổ đại:
⏱️ Tổng thời gian hoàn thành một mẻ vàng
Giai đoạn Thời gian ước tính Điều đang xảy ra
Chuẩn bị lò + đốt nóng ban đầu 30 – 45 phút Tre Guadua cháy mạnh, nâng nhiệt rất nhanh
Gia nhiệt đến trạng thái đủ nấu chảy 20 – 30 phút Vàng bắt đầu mềm → chảy
Giữ nhiệt để tách tạp chất (slagging) 15 – 25 phút Tro khoáng hấp phụ oxit sắt, silic
Hớt xỉ và ổn định kim loại lỏng 10 – 15 phút Kim loại trở nên sáng và “mịn mặt”
Rót khuôn (đồng vàng / thỏi vàng) 5 – 10 phút Công đoạn rất nhanh
Để nguội tự nhiên trong khuôn 40 – 60 phút Kim loại kết tinh hoàn toàn
🔥 Tổng thời gian toàn mẻ:
👉 Khoảng 2 – 3 giờ là hoàn tất một chu kỳ luyện – đúc.
(Trong điều kiện cổ đại, đây được xem là rất nhanh.
Luyện quặng vàng nghèo có thể mất 1–2 ngày.)
⚙️ Vì sao phương pháp này nhanh?
1️⃣ Quặng đã gần như là kim loại
Au 97% nghĩa là:
Không cần hoàn nguyên hóa học.
Chỉ cần nấu chảy + làm sạch vật lý.
→ Tiết kiệm tới 70% thời gian luyện.
2️⃣ Tre Guadua cháy cực “nóng và thoáng”
Tre loại này:
Thành dày → tạo than có cấu trúc rỗng.
Cháy sinh nhiệt nhanh như than củi nhẹ.
Dễ đạt mức nhiệt cần thiết với lò thủ công.
Người xưa rất ưa loại nhiên liệu kiểu này vì:
Cháy nhanh – nhiệt cao – ít tro bít gió.
3️⃣ Tro gỗ Betula không làm chảy vàng — chỉ giúp gom xỉ
Tro của loại gỗ cứng này giàu:
CaO
K₂CO₃
MgO
Những chất này:
Kết dính tạp chất thành xỉ lỏng.
Làm bề mặt vàng “sạch” nhanh hơn.
Không cần nấu lâu để tinh luyện.
🧪 Dấu hiệu cho biết đã nung đủ (cách người xưa nhận biết)
Không có nhiệt kế — họ nhìn bằng mắt:
Kim loại lỏng có màu vàng sáng như mặt trời → đã đạt.
Mặt kim loại “chạy sóng” mịn, không lợn cợn → xỉ đã tách.
Xỉ nổi thành lớp đen/xanh dễ gạt → có thể rót khuôn.
Không còn tiếng nổ lách tách → tạp chất đã cháy hết.
Lúc này Minh Hà đổ vàng vào khuôn cát
Phần giải thích khuôn cát
Khuôn cát – đất sét
(nghĩa chuyên môn: khuôn cát kết dính tự nhiên)
Tên gọi theo cách hiểu luyện kim cổ điển
Khuôn cát: vì cát chiếm tỷ lệ lớn và tạo khung chịu nhiệt.
Đất sét chỉ đóng vai trò chất kết dính để khuôn giữ hình dạng.
Trong thực tế, thợ thủ công không gọi là “khuôn đất”, mà xem đây là:
khuôn cát có đất sét làm keo.
Nếu dùng thuật ngữ Hán–Việt (dạng cổ thư có thể gặp)
Sa khuôn – khuôn cát
Thổ kết sa khuôn – khuôn cát kết bằng đất
Sa mô – khuôn đúc bằng cát
Những từ này mô tả đúng bản chất vật liệu: cát là chính, đất là phụ.
Vì sao không gọi là “khuôn đất sét”?
Nếu chỉ là đất sét:
Đó sẽ là khuôn gốm (ceramic mold), phải nung chín như đồ gốm.
Loại đó khác hẳn, dùng cho đúc tinh xảo hoặc đúc nhiều lần.
Còn loại bạn làm:
Không nung đến mức hóa gốm hoàn toàn
Dùng một vài lần rồi phá khuôn
→ nên được xếp vào khuôn cát truyền thống.
Tóm lại
Khuôn bạn đang sử dụng đúng tên kỹ thuật là:
Khuôn cát (sand mold) – loại khuôn cát kết dính bằng đất sét tự nhiên.
Đây là dạng khuôn phổ biến nhất trong đúc kim loại từ thời cổ đại cho đến tận thời tiền công nghiệp.
Hình dạng khuôn sử dụng hình dáng thỏi vàng ở tương lai thỏi vàng hình chữ nhật, còn các đồng tiền thì thì vẫn sử dụng hình tròn thôi
“Các khuôn đúc thỏi vàng và đồng tiền vàng vẫn đang được chế tạo, các ngươi hãy tiếp tục ở đây chế tạo thỏi vàng và đồng tiền vàng, lương bổng sẽ rất hậu hĩnh đấy”
“Chúng thần cẩn tuân mệnh lệnh của Bệ Hạ”
Lúc này Cao Lỗ bước vào và nói
“Bệ hạ, chúng ta đã phát hành tiền của Đại Việt vậy cũng nên chế tạo ấn ký đặc biệt trên đồng vàng và thỏi vàng để người khác nhận biết chúng ta chứ”
“Cái đó thì ta cũng đang tìm các nghệ nhân giỏi về vẽ để tạo ra ấn ký đặc biệt trên mặt đơn vị tiền tệ chúng ta và đặt làm khuôn số lượng nhiều đây”
“Trước đó thì cứ thế này trước đã, sau này nếu tìm ra được thì nấu lại rồi dùng khuôn mới có ấn ký của Đại Việt là được, vì dù sao vàng có thể nấu lại lần nữa mà”
“Vâng, Bệ hạ, haiz tạm thời cũng chỉ có thể như vậy”
Sau đó Minh Hà tiếp tục di chuyển đến xưởng làm Bê tông, lúc này Minh Hà cũng đã triệu tập một số lượng dân chúng đến để bắt đầu chế tạo xi măng vì đã tập hợp đủ nguyên liệu
Lúc này tại xưởng làm bê tông cùng với những người được xét duyệt để tham gia chế tạo xi măng
Tại sao phải xét duyệt vì đơn giản mà nói xi măng là thứ có thể thay đổi thế cuộc của lịch sử và chiến tranh hiện tại nó còn đáng sợ hơn cả hỏa pháo
Tại sao ư? Hãy thử nghĩ thế này nhé nếu một bức tường thành sử dụng xi măng có thể chống đở được 2 – 4 phát hỏa pháo mới bị vỡ mà thứ đó còn dễ chế tạo và sản xuất hoàn toàn có thể áp dụng sau khi đợt tấn công của kẻ địch kết thúc
Nếu thứ này được mở rộng ra mọi cuộc chiến sẽ tiêu hao tài nguyên và binh lực nhiều hơn để giành chiến thắng, cho nên Minh Hà đặc biệt xét duyệt những người tham gia vào dự án xi măng này
Và cũng uy hiếp là nếu dám tiết lộ ra ngoài công thức không chỉ là gia đình thôi đâu mà còn liên đới đến cửu tộc nữa, nếu làm tốt không chỉ là lương bổng vô cùng nhiều chỉ cần đời sau không quá phế, không cần quá tài giỏi cũng có thể ăn sung mặc sướng không lo gì cả
Khi nghe những điều này những dân chúng có chí muốn làm giàu lập tức đồng ý, và đóng dấu tay vào khế ước
Lúc này những người đồng ý vào xưởng xi măng lên đến con số 200 người, Minh Hà không ngờ sau khi bị uy hiếp như thế sẽ có khối người từ bỏ, ấy vậy mà vẫn còn hơn 200 người ạ, đúng là tiền bạc song hành với nguy hiễm mà
Lúc này trước những lò nung này Minh Hà cũng bắt đầu hướng dẫn
“Đầu tiên sấy Đốt nhẹ với nhiệt độ khoảng 200–600 °C với mục đích là Bay hơi nước
Đất sét bắt đầu hoạt hóa.
👉 Đốt tre nhẹ, không để cháy dữ”
“Thời gian sấy này cần khoảng 2 tiếng”
Sau hơn 2 tiếng Minh Hà bắt đầu nung đá vôi, Minh Hà thêm tre guada vào để tăng nhiệt độ cho lò để nung đá và dùy trì ở mức nhiệt khoảng 750–900 °C
Lúc này xảy ra phản ứng quan trọng nhất:
➡️ Đá vôi tách CO₂ và biến thành vôi sống.
Bạn sẽ thấy:
Lửa cháy rất sáng.
Đá nhẹ dần.
Có tiếng “lách tách” nhỏ.
Đây là lúc tre Guadua phát huy tác dụng:
Cháy nóng
Cháy lâu
Không cần quạt gió.
👉 Sau khoảng 4 giờ, gần như toàn bộ đá đã “chín”.
Sau hơn 4 tiếng chờ đợi đá chín, thì Minh Hà bắt đầu giai đoạn thứ 3 Tạo khoáng xi măng
Lúc này Minh Hà thêm tre guada để tăng nhiệt độ lên khoảng 900–1000 °C Tiếp tục giữ lửa ổn định (không cần thêm quá nhiều tre).
Lúc này:
Vôi sống bắt đầu “ăn” vào cát và đất sét.
Tạo ra các khoáng kết dính giống xi măng.
Bạn không thấy phản ứng rõ ràng,
nhưng bên trong đang hình thành cấu trúc quyết định độ bền sau này.
👉 Giữ nhiệt thêm 3–4 giờ là đủ
Tại vì nếu để lâu hơn thì sẽ dẫn đến hậu quả là quá nóng sẽ hỏng vật liệu
Sau 4 tiếng nữa thì đã đến một trong hai bước cuối cùng Ủ nguội, phần này rất quan trọng không thể vội được vì Minh Hà sử dụng lò nung vô cùng lớn nên thời gian ủ nguội cũng lâu hơn vì với phối liệu và nhiên liệu dùng, thời gian ủ nguội lý tưởng là:
🔹 Tối thiểu: 18 giờ
🔹 Tốt nhất: 24 giờ
🔹 Nếu khối nung lớn (>300–500 kg vật liệu): 30–36 giờ
Vì sao phải ủ lâu như vậy?
Sau khi ngừng đốt, bên trong lò vẫn còn rất nóng (700–900 °C).
Lúc này đang xảy ra quá trình quan trọng:
Các khoáng canxi silicat tiếp tục kết tinh.
Cấu trúc vật liệu “ổn định lại”.
Nếu nguội chậm → tinh thể lớn → vật liệu rắn chắc hơn nhiều.
Nếu nguội nhanh → cấu trúc bị sốc nhiệt → sau này dễ bở, yếu.
👉 Xi măng cổ đại mạnh là nhờ nguội chậm tự nhiên, không phải do nung lâu hơn.
Cách ủ nguội đúng (rất quan trọng)
Ngay khi ngừng cho tre:
1️⃣ Ngừng cấp nhiên liệu hoàn toàn.
2️⃣ Bịt các cửa lò bằng đất hoặc gạch để giữ nhiệt.
3️⃣ Không mở lò. Không đảo vật liệu. Không tưới nước.
Chỉ để lò tự nguội như một “bình giữ nhiệt”.
Khi nào được mở lò?
Dùng cách dân gian rất chính xác:
Đặt tay gần cửa lò:
Nếu còn nóng rát → chưa mở.
Khi chỉ còn ấm như nước tắm (~40–50 °C) → mở được.
Hoặc nhìn dấu hiệu:
Không còn hơi nóng bốc lên.
Tro nguội hoàn toàn.
Lấy que gỗ đưa vào không bị cháy sém.
Nếu mở lò quá sớm (<12 giờ) sẽ bị gì?
❌ Vật liệu bị “chai vôi” (dead-burn một phần).
❌ Phản ứng silicat chưa hoàn tất.
❌ Xi măng sau này đông rất chậm và yếu.
❌ Có thể bị nứt vụn khi nghiền.
Công thức thời gian theo kích thước mẻ nung
Đường kính lò Thời gian ủ nguội
~1 m 18–24 giờ
1.5 m 24–30 giờ
2 m trở lên 30–36 giờ
Sau hơn 2 ngày chờ đợi đợt xi măng đầu tiên đã hoàn thành, lúc này Minh Hà và người khác bắt đầu công việc cuối cùng đó là lấy ra và nghiền
Sau khi nguội hoàn toàn:
sẽ thấy vật liệu:
Màu xám trắng
Nhẹ hơn đá ban đầu
Dễ đập vỡ.
Đập nhỏ rồi nghiền thành bột mịn.
💬 Bình luận chương