“Được rồi, mẹ ơi, con biết rồi.” Tôi gác ống nghe điện thoại lên vai và vươn tay để chỉnh lại chiếc khung ảnh bị nghiêng trên bức tường cạnh cầu thang. “Anh Tom đã nói hết với con chiều nay rồi. Con nghĩ việc này là một bất ngờ đáng yêu với cả cha và mẹ.”
“Ừm.” Giọng mẹ tôi lơ đãng và có vẻ không hoàn toàn bị thuyết phục cho lắm. “Thể nào cha con cũng sẽ tiếp tục tham gia các cuộc thi giải ô chữ, nên mẹ chỉ còn cách chờ thôi. Dù mẹ không cho rằng kỳ nghỉ cuối tuần ở Brighton là một giải thưởng thực sự lớn lao gì cho cam. Nhưng mà”, bà nói, chọn một thái độ tích cực hơn, “cha con cũng thích điên lên rồi. Nếu nghe ông ấy nói thể nào con cũng nghĩ bố mẹ cứ như chưa được đi nghỉ bao giờ ấy, chúng ta sẽ đi vắng tận một tháng liền”.
Tuy nhiên bà không thể giấu nổi niềm vui trong giọng nói. Cả hai chúng tôi đều biết chính là chiến thắng, chứ không phải giải thưởng, đã khiến ông phấn khích - ý nghĩ đoạt được gì đó chẳng để làm gì cả.
“Cha có nhà không mẹ?”
“Không, ông ấy đi mua quần bơi rồi. Cứ tưởng tượng”, bà cười khúc khích, “với đôi chân của ông ấy xem! Mẹ sẽ phải đi cách mười bước sau lưng ông ấy và đeo một cái kính đen để không ai nghĩ mẹ với ông ấy đi cùng nhau”.
Tôi cười tinh quái. “Họ có vụ tắm khỏa thân ở Brighton đúng không mẹ nhỉ?”
“Con đang khuyến khích hay dọa mẹ sợ chết khiếp đấy?”
“Ôi, mẹ sẽ vui lắm, mẹ à. Và chỉ có một tuần thôi. Khi nào mẹ đi?”
“Thứ bảy tuần sau. Cha mẹ sẽ nghỉ đêm tại nhà Tom ở Elderwel, cha mẹ cũng nghĩ nếu không bận gì hôm đó, con có thể sẽ muốn lái xe xuống đây cùng ăn tối - làm một cuộc họp mặt gia đình.”
“Con rất tiếc.” Tôi lắc đầu. “Con không đi được mẹ ạ. Thứ Bảy tuần sau thì không được. Đám cưới của Rachel sẽ tổ chức vào hôm ấy, cô ấy sẽ thất vọng lắm nếu con không ở đó.”
“Rachel?”, giọng nói bối rối của mẹ ngăn tôi lại, tay tôi siết chặt quanh ống nghe khi nhận ra ý nghĩa của những điều mình vừa nói.
“Rachel Evers”, tôi bịa, giữ giọng nói của mình sao cho thật bình thường. “Bạn thân ở trường cũ.”
“Ồ.”
Từ sự im lặng kéo dài theo sau, tôi biết mẹ tôi đang lục tìm trong ký ức để tìm cho ra một khuôn mặt khớp với cái tên, tôi vội vã đổi chủ đề. “Tom bảo cha lại gặp vấn đề với vai”, tôi nhắc và thả lỏng cả người khi mẹ tôi sa vào hướng mới. Bà luôn luôn hạnh phúc khi được thảo luận về các vấn đề sức khỏe của cha tôi - theo ý kiến của bà, chủ yếu là do quá nhiều đêm ông uống rượu và chơi bi a ở câu lạc bộ.
Phần còn lại của cuộc nói chuyện, tôi chỉ lơ đãng lắng nghe có một nửa, còn lại thì lấp đầy những khoảng ngừng trong bài tường thuật của mẹ tôi với những âm thanh đồng ý hay thông cảm phù hợp.
“Con có chắc là vẫn khỏe đấy chứ?” Bà hỏi tôi, vào lúc kết thúc câu chuyện đặc biệt dài.
“Đương nhiên rồi ạ. Sao thế mẹ?”
“Con không nói quá hai từ trong suốt mười phút.”
“Vậy sao? Con xin lỗi. Sáng nay con dậy hơi sớm và dường như nó bắt đầu ảnh hưởng đến con rồi.”
“Ừ, con xem thế nào rồi nghỉ sớm đi”, mẹ tôi khuyên. “Và ăn đầy đủ nữa. Phải đảm bảo lọ vitamin của con được bổ sung cả sắt nữa nhé. Con vẫn uống vitamin đấy chứ? Tốt. Giờ con không muốn bị ốm đâu, đúng không?”
“Con thấy khỏe mà mẹ”, tôi lại nói, dường như đã lặp đến cả trăm lần trong hôm nay rồi. Đó là một câu nói dối, tôi tự thừa nhận thế khi cúp máy. Tôi đã nói câu đó với Geoff vào ban sáng, với Tom vào buổi chiều và giờ là với mẹ tôi, nhưng nó vẫn chỉ là một câu nói dối. Tôi không thấy khỏe một chút nào. Thực tế, tôi có cảm giác rất suy nhược và biết chỉ một người duy nhất trong ngôi làng này sẽ thấu hiểu lý do tại sao.
Ngôi nhà của bà Hutherson là căn thứ hai qua tòa cha sở bằng gạch đỏ trên đường Thượng. Nó thực sự trông giống một căn nhà ở miền quê, nhỏ nhắn, vuông vắn và hơi lún xuống bên dưới do sức nặng của mái ngói cổ. Lối đi được trồng hoa oải hương và những bông hoa thả xuống từ bệ cửa sổ giữa những cánh cửa chóp sơn màu xanh tươi mát. Ngay cả khi Alfreda Hutherson không lúi húi ở một bên mé rào, chăm sóc những hàng cà chua trĩu quả, tôi cũng biết ngôi nhà này là của bà.
Bà đứng thẳng người khi tôi đi qua cánh cổng thấp, mở được cả hai chiều, chào đón tôi với nụ cười ân cần và thấu hiểu.
“Ta đã mong cháu sẽ đến sớm hơn”, bà nói.
“Nhưng ta nghĩ cháu vừa có một ngày bận rộn. Cháu thất vọng là tự nhiên thôi mà.”
Không cần giải thích mới tuyệt làm sao. “Vâng ạ.”
“Cháu muốn nhiều hơn nữa.”
“Cháu muốn cái kết của một câu chuyện cổ tích”, tôi thừa nhận với nụ cười ủ rũ. “Cháu mới ngu ngốc làm sao.”
“Không hề”, bà quả quyết đáp. “Nhưng ngay cả những cặp tình nhân trong các câu chuyện cổ tích cũng gặp phải những thời điểm khó khăn, trước khi đến được cái kết mãi-mãi-về-sau. Cho nó chút thời gian đi cháu. Hãy tin tưởng cả quá trình, khi kết thúc tất cả sẽ đâu ra đấy. Cháu đã dùng bữa chưa?”
“Chưa ạ.” Tôi lắc đầu. “Cháu không đói.”
“Vào trong đi cháu. Cháu sẽ thấy khỏe hơn nếu có chút gì đó để ăn.”
Bên trong ngôi nhà cũng ấm cúng như bên ngoài, tươi vui với những chiếc ghế hoa căng phồng, những bức tường trắng và tấm rèm ren thả, những dải nắng cuối cùng của ánh mặt trời trong ngày rớt qua khung cửa sổ hai cánh hình vuông. Tôi không ngạc nhiên khi nhìn thấy một con mèo nằm trên bệ cửa sổ; điều khiến tôi bất ngờ, một cách khá ngây thơ, là con mèo có màu vàng rộm, chứ không phải màu đen. Và sau cùng, dựa theo suy nghĩ của tôi, tôi nhận ra chẳng có gì phải bất ngờ đến thế cả…
“Cháu tin đã nhìn thấy con mèo nhà bác một lần”, tôi bình luận, “khi nó băng qua con đường gần nhà cháu”.
“Không khiến ta bất ngờ. Anh chàng này vẫn thường hay đi lang thang lắm. Mẹ của nó lại là kiểu suốt-ngày-ru-rú-trong-nhà, nhưng nó thì giống ông nó, ta e là vậy.”
Dẫn tôi vào trong một căn bếp nhỏ, bà Hutherson bận rộn bày biện nào bánh sandwich, nào bánh mặn và một ấm trà đang ủ như mọi khi. Nếu không thể cho tôi những câu trả lời, thì dường như ít nhất bà cũng xác định sẽ cho tôi cảm giác thoải mái và hạn chế đến tối đa những vết cứa sắc nhọn từ nỗi thất vọng của tôi.
“Người ta nhìn thấy trong chuồng ngựa với Geoff và Iain có phải anh trai cháu không?” Bà đột nhiên hỏi tôi.
Tôi gật đầu. “Cháu nghĩ họ đưa anh ấy đi tham quan một vòng.”
“Cậu ta có vẻ ngoài rất giống cháu. Vivien kể cậu ta là một mục sư.”
“Anh ấy sống ở Hampshire. Lần tới anh ấy đến cháu sẽ giới thiệu với bác”, tôi hứa. “Cứ vài tuần anh ấy lại ghé qua kiểm tra cháu một lần.”
“Ta nghĩ cậu ta lo cho cháu.” Bà nghiêng đầu, cẩn thận nghiên cứu gương mặt tôi. “Phải chăng cậu ta có lý do để làm thế?”
Tôi gạt qua một bên ý kiến ấy. “Không, không đâu… Cháu ổn mà, thật đấy.” Bên dưới đòi hỏi dịu dàng từ đôi mắt bà, thái độ của tôi dịu đi. “Cháu đang gặp một chút rắc rối với sự kiểm soát, nếu bác nhất quyết muốn biết. Không phải lúc nào cháu cũng được lựa chọn thời gian thực hiện chuyến quay về quá khứ, đôi khi cháu bị lôi tuột đi mà không có lý do nào cả.”
“Bây giờ cháu đều quay lại mỗi ngày phải không?”
“Gần như thế.” Tỏi gật đầu. “Thật khó để không làm như vậy. Bác thấy đấy, cháu rất quan tâm đến họ. Cháu quan tâm điều gì sẽ xảy đến với họ và tất cả họ đều quá thật…”
“Có lẽ còn thật hơn cả chúng ta nữa phải không?” Biểu cảm của tôi đã trả lời hộ tôi, bà gật đầu. “Phải, ta hiểu rồi. Một khi quá khứ lắng lại, sẽ có đủ thời gian cho hiện tại. Nhưng cháu không được để mất kết nối với hiện tại. Julia ạ”, bà cảnh báo tôi. “Quá khứ có thể dạy cho chúng ta nhiều điều, có thể nuôi dưỡng chúng ta, nhưng không bao giờ là nơi chứng minh sự tồn tại của chúng ta cả. Khi bản chất của cuộc sống thay đổi thì chúng ta phải tiếp tục dấn thân lên trước, không thì linh hồn sẽ héo tàn rồi chết đi.”
Tôi dành ra vài ngày tiếp theo để làm việc một mình trong im lặng, giữa khu vườn nơi những nhành hồng leo đang e ấp hé nở dọc theo bức tường đổ nát. Khi nụ hồng đầu tiên xòe cánh, tôi âu yếm cắt lấy nó và c*m v** chiếc bình bên cạnh bàn vẽ của mình. Một cách cẩn thận, tôi phép nói chuyện với anh, theo yêu cầu của bác em.”
“Và khi nào thì em bắt đầu tuân theo các yêu cầu đó vậy?” Anh giơ ly của mình ra cho tôi rót, miệng cong lên thích thú. “Bên cạnh đó, lúc này bác em bận rồi, với phần lớn các quý ông nghiêm nghị. Nếu ông ta có nhìn theo hướng này, anh chỉ cần hụp đầu xuống là ổn.”
“Ngài đúng là không sao chấp nhận được đấy, thưa ngài.”
“Thưa vâng. Và khiếu hài hước của cô đúng là quá thiếu sót đấy, thưa cô. Điều gì làm em khó chịu đến thế?”
Tôi nhăn mặt cúi thấp đầu. “Em xin lỗi, thưa ngài, nhưng ngày hôm nay bụng em cứ quặn thắt hết cả lên. Làm sao anh có thể mang Evan đến đây được?”
Giọng anh điềm tĩnh. “Bọn anh được mời mà.”
“Rachel đã đủ khổ sở lắm rồi, đấy là còn chưa nhắc đến niềm hạnh phúc cô ấy đã trải qua nữa, việc anh ta dường như chẳng mấy bị ảnh hưởng vì đám cưới của cô ấy càng làm mọi chuyện xấu hơn.”
Đôi mắt Richard dõi theo mắt tôi nhìn về phía dáng hình dong dỏng, im lặng của Evan Gilroy, anh ta đang đứng uể oải dựa vào bức tường cạnh lò sưởi, một chân đi bốt xấc xược gác lên lò sưởi nguội ngắt.
“Đây nào có phải đám cưới”, Richard phủ nhận với nụ cười thoáng xấu xa, “cho đến khi nó được hoàn thành”.
Đúng lúc đó thì bác tôi quay lại và nhìn thấy chúng tôi, mặc cho lời hứa sẽ hụp đầu xuống của Richard de Mornay. Thay vào đấy anh nâng ly của mình lên, giọng nói đầy biểu cảm vang rền khi anh kêu gọi mọi người nâng ly chúc mừng.
“Vì bệ hạ, nhà vua Charles!”
“Vì nhà vua!” Tất cả mọi người đồng loạt nâng ly lên đáp lời, rồi uống cạn. Bác tôi cũng nâng ly chúc mừng, nhưng đôi mắt ông híp lại và trở liên khắc nghiệt lúc hạ cốc xuống.
“Vì cô dâu và chú rể!” Ai đó hét lên, từ phía sau căn phòng, một lần nữa đoạn điệp khúc lại đồng thanh hô vang và những chiếc ly lại được giơ cao.
“Vì tình yêu”, Evan Gilroy đề nghị bằng chất giọng đều đều, sinh động, không buồn chuyển động từ vị trí cạnh lò sưởi. Lần thứ ba, các giọng nói đồng thanh lặp lại và rượu mừng lại được uống cạn. Richard gắn chặt đôi mắt lên tôi trong khi uống cạn ly của mình, rồi đặt nó xuống kèm theo một cái nháy mắt.
“Em hãy ghi nhớ cái cách anh đã uống ly rượu mừng này”, anh nói với tôi trước khi bỏ đi.
Không lâu sau đó món sack posset[2] lại được bưng ra, mùi hương nồng nàn ấm áp của sữa đặc hòa trong rượu vang Tây Ban Nha cùng hương liệu bốc lên, đó cũng là lúc những chiếc đèn cháy hết được châm lên, ngọn lửa cũng được nhóm trong phòng ngủ trên tầng, nơi chiếc giường cỡ đại được chuẩn bị cho đôi vợ chồng tân hôn.
[2] Rượu vang pha với sữa đặc thêm vào một chút hương liệu.
Caroline và tôi hộ tống Rachel lên phòng ngủ để giúp cô ấy thay váy. Vài phút nữa là tất cả các vị khách sẽ theo sau, theo phong tục bắt buộc, để quăng tất của cô dâu[3] và chứng kiến cặp đôi mới cưới đi vào phòng ngủ. Rachel rõ ràng không có hứng thú với viễn cảnh ấy, nhưng cô ấy vẫn đờ người ngồi im dưới sự giúp đỡ của chúng tôi.
[3] Theo tục lệ, cô dâu sẽ ném tất vào đám đông, như trao tặng may mắn cho người nào bắt được nó.
“Em phải vui lên”, Caroline vừa véo vào má Rachel cho có thêm sắc hồng vừa trách em gái. “Đây có phải đám tang đâu. Jabez đã gả em cho một người đàn ông giàu có và đáng kính trọng, em nên thể hiện lòng biết ơn của mình rõ ràng hơn.”
“Em đang rất biết ơn đây”, Rachel đều giọng nói.
Caroline cuống quýt sửa sang tóc cho Rachel, và chặc lưỡi. “Trông em chẳng có gì là biết ơn cả. Em phải mỉm cười, và nói…”
“Ôi, cứ kệ cô ấy đi, Caroline!” Tôi quát lên, lòng kiên nhẫn của tôi mỗi lúc lại bị bóp méo, những âm thanh ồn ào ngưng bặt. Tôi nhìn đôi mắt Rachel qua tấm gương. “Cô có muốn chúng tôi ở với cô không?”
Cô ấy chậm rãi lắc đầu. “Tôi nghĩ mình thích ở một mình hơn, nếu cả hai không phiền. Tôi sẽ có thời gian để suy nghĩ, và…” Cô ấy ngừng lại, mỉm cười với chị gái. “Cầu nguyện Chúa sẽ biến em thành một người vợ tốt và biết nghe lời.”
Cô ấy đứng dậy ôm lấy cả hai chúng tôi, trông tái nhợt và đáng yêu trong bộ váy ngủ thướt tha. “Tôi sẽ nhớ chị lắm”, cô ấy thì thầm bên tai tôi, bám chặt lấy tôi với sự tuyệt vọng không khác gì một đứa trẻ đang sợ hãi.
“Chúng tôi sẽ đến thăm cô thường xuyên”, tôi run run hứa. “Cô sẽ chẳng có lý gì để nhớ tôi đâu.”
Cô ấy đơn giản chỉ lắc đầu, đôi mắt rạng ngời với những giọt nước mắt, và lại ôm tôi. Tôi mang tâm trí bồn chồn muốn rút lui. Dưới nhà, cuộc vui tưng bừng với những đợt chúc tụng và ca hát, tất cả các vị khách đều tỏ ra phấn khởi lúc tập trung nhau lại hộ tống chú rể vào phòng tân hôn. Tôi không có lòng dạ nào để tham gia với họ, khi cuối cùng họ cũng lên đến cầu thang, tôi vẫn còn rầu rĩ lừng khừng nơi hành lang, hy vọng mình sẽ không bị coi là vắng mặt.
Tôi chỉ ngờ ngợ nhận ra âm thanh từ những giọng nói ầm ĩ dần đứt quãng, rồi thay đổi, càng lúc càng trở nên chói tai. Mọi người dường như đang quay lại, lũ lượt kéo xuống cầu thang hẹp trong bầu không khí kích động, run rẩy tràn ra từng góc của đại sảnh, bác tôi đứng giữa tất cả, khuôn mặt sầm sì và nguy hiểm hơn bao giờ hết.
“Lấy ngựa!” Ông ra lệnh với những người xung quanh. “Chúng sẽ không bỏ trốn được. Vì Chúa”, ông gầm lên, trông dáng đứng vô cùng cao lớn. “chúng sẽ không bỏ trốn được thế này!”.
Bầu không khí xung quanh tôi nháo nhào kích động, phủ đầy những tiếng thì thầm hăm hở. “Đi rồi… có nghe thấy gì không…? Đương nhiên là qua cửa sổ… Gilroy đó, trời ạ, từ tòa trang viên… không thể nghi ngờ chuyện gì cả…”
Elias Webb, run rẩy vì giận dữ, gạt qua cả đống người chen chúc để lao về phía tôi. “Mở cửa ra!” Ông ta ra lệnh, tôi tự động nghe theo, rồi tôi ép chặt bản thân lên cánh cửa để ông ta đi qua. Vài người đàn ông khác theo ông ta ra ngoài bãi cỏ, chủ động tỏa đi tất cả các hướng. Theo bản năng, tôi nhìn qua họ đến chỗ Evan đã buộc những con ngựa. Navarre đứng một mình dưới ánh trăng, bóng dáng màu xám mơ hồ với mái đầu xoay thẳng về phía những ngọn đồi ở tít xa.
Tôi rời ánh mắt khỏi nó và xoay người lại. Richard de Mornay đang đứng nơi lưng chừng cầu thang, một bờ vai dựa lên bức tường sau lưng, hai cánh tay anh thư thái khoanh trước ngực. Bên trên cả biển những khuôn mặt kinh ngạc, đôi mắt anh chạm mắt tôi, và anh mỉm cười.
💬 Bình luận chương