Tên vệ sĩ cho tôi uống ít nước. Hắn đấm bóp cho tôi một cách thô bạo – cơ thể Chacal lại quen với cái kiểu này – và đỡ tôi ngồi thẳng lên. Cuối cùng hắn cho tôi ít bột sô-cô-la nhão không đường đựng trong cái cốc nhỏ và chắc tôi phải l**m dần. Tôi l**m. Tôi đoán trong đó có một lượng ca-phê-in bằng năm tách cà phê espresso. Sọ Đá Quý 2 khom người bước qua cánh cửa và đến ngồi bên kia bàn thờ, chỗ Răng Ngạnh 7 đã ngồi. Ông ta vẫn ăn vận như lúc trước, vẫn đeo những chuỗi ngọc bích và vỏ ốc xà cừ, nhưng hình như vừa tắm gội xong. Có thể là tắm hơi. Tôi nghe thấy tiếng ai đó, có lẽ là một tên vệ sĩ khác, đến ngồi bên cạnh tôi, nhưng phép lịch sự của tôi đã tiến bộ và tôi không ngoái ra nhìn.
- Vậy đây là lần đầu tiên Muối Mặn Già đến với ngươi, - Sọ Đá Quý 2 nói.
Tôi ra hiệu "vâng".
- Dấu hiệu tốt đấy.
Ông ta nói thêm rằng đa phần những người khác không tận dụng được sự giúp đỡ của Muối Mặn Già tốt đến thế trong lần đầu. Cũng như hầu hết các loại m* t** khác thôi – tôi nghĩ – nếu không, khi quen mui sẽ còn đến mức nào? Tôi cược rằng nếu được chơi cùng LEON với thứ thuốc này, chẳng mấy chốc tôi sẽ tìm ra được tên doomster. Mà đấy là tôi mới dùng nhiều lắm một phần tư liều thôi đấy. Không phải là nó không suýt g**t ch*t tôi, nhưng vẫn còn tốt chán.
Sọ Đá Quý 2 lấy ra một điếu xì gà mới, châm nó vào một hòn than và rítTôi ngồi nhìn. Đột nhiên, và rất ngạc nhiên, ông ta mời tôi một điếu. Tôi lịch sự nói mấy câu cảm ơn. Ông ta cũng lịch sự đáp "không có gì". Ông ta châm nó vào hòn than và đưa cho tôi.
Tôi khó khăn lắm mới đưa được tay lên nhận. Rõ ràng dư chấn đặc trưng của Bụi của Muối Mặn Già chính là cảm giác như vừa rơi bộp từ trên cao xuống, hay như vừa bị tiêm vào máu sáu mươi pound chì nén nhỏ lại. Tuy nhiên, tôi vẫn xoay xở tìm được điếu xì gà và đưa vào miệng- tôi biết nên nhập gia tùy tục, nhưng tôi không thích hít bằng mũi – và hít vào một hơi khói. Nó có hương vị tự nhiên rất đậm, thêm vị sô-cô-la và thoảng mùi bạc hà, mùi đá lửa khen khét và cuối cùng là mùi xơ vải. Mẹ kiếp, ngon thật. Cơ thể của Chacal nghiện thứ này điên cuồng.
Ừ thế có nghĩa là lão già Sọ Đá Quý 2 này cũng có tí ấn tượng với mình, - tôi nghĩ. Tôi đã hạ gục cái người tên là Răng Ngạnh 7 kia khá ngoạn mục, phải không? Có điều đừng mở mồm nhắc đến chuyện ấy, - tôi tự nhủ. Đừng xúc phạm người đếm mặt trời của ông ta, dù lão có kém cỏi thật.
- Chúng ta từng có một người đếm mặt trời "tám sọ" nhưng hắn chết rồi, - Sọ Đá Quý 2 nói, rõ ràng ông ta đọc được ý nghĩ của tôi.
Tôi không hiểu như thế nghĩa là gì hay nên đáp thế nào. Có lẽ ông ta muốn nói đến người đếm mặt trời cũ của ông ta có thể chơi với tám viên đá. Nếu thế thật, người đó hẳn phải khá thông minh. Tôi ra hiệu "tôi hiểu", mặc dù chả hiểu gì.
- Răng Ngạnh 7 chỉ là người đếm mặt trời ba sọ, - Sọ Đá Quý 2 nói, - chúng ta đang tìm cách có được một người đếm mặt trời bảy sọ: Đổ Trời. Nhưng hình như nhà Vẹt Đuôi Dài cũng đã mời hắn.
Tôi gật đầu. Vậy là giữa hai nhà đang diễn ra một cuộc ganh đua để có một người đếm mặt trời giỏi nhất. Cũng như hồi tôi còn nhỏ, ở Alta Verapaz, các làng tranh nhau để mời được ông thầy lang mát tay nhất.
Một kẻ hèn hạ không được phép đặt câu hỏi với bề trên, nhưng có lẽ tôi nên thử liều xem sao. Ông ta đang cởi mở với mình mà, - tôi nghĩ. Chúng tôi có một mối liên hệ đặc biệt mà, phải không?
- Vậy theo ngài, ở trên tôi, ai là người đếm mặt trời giỏi nhất? – tôi hỏi.
- Gió Lốc 11 là người đếm mặt trời chín sọ duy nhất ở Ix, - ông ta đáp, - ngoài ra chỉ còn ba mươi mốt người đếm mặt trời chín sọ mà thôi.
Qu sự tiu ngỉu trong giọng nói, rõ ràng ý ông ta là cả thế giới chỉ có ngần ấy mà thôi. Ông ta nói Gió Lốc 11 đã được thu nhận vào nhà Mèo Rừng từ khi còn nhỏ, cách đây hơn sáu mươi năm, và bây giờ quyền năng của lão ta đã như huyền thoại. Thực tế, trong lúc chúng ta đang nói chuyện đây, lão có thể đã nhắm vào tôi. Và chả mấy chốc nữa, lão sẽ đoán ra được cuộc săn hươu chỉ là làm trò. Lão sẽ xác định được tôi ở đâu bằng một ván cờ Hiến tế và nhà Mèo Rừng sẽ cử một đội quân đến túm cổ tôi.
Tôi hỏi vì sao nhà Ocleot vẫn còn tức giận với chúng ta – tôi lại thầm nhấn mạnh từ chúng ta trong đầu – nếu chúng ta đã đền bù cho họ bằng chuyến săn hươu. Vừa hỏi dứt mồm, tôi đã thấy hối tiếc. Câu hỏi vừa khó chịu vừa ngu xuẩn. Ăn nói cẩn thận đấy, - tôi nhắc nhở mình.
Nhưng nếu câu hỏi đó có làm Sọ Đá Quý 2 bực mình thì ông ta cũng chả tỏ thái độ gì. Ông ta trả lời rằng vì một lý do: có thể hầu hết người thị tộc Mèo Rừng ngờ rằng chúng tôi cố gắng phá họa lễ hiến sinh trên đỉnh kim tự tháp. Nhưng căn nguyên sâu xa thì bắt nguồn từ rất lâu rồi. Mèo Rừng đã đóng vai trò thị tộc đứng đầu thành Ix kể từ khi nó mới ra đời, được cho là ngày Chúa tể 9, Ngụm rượu 3, 8.0.0.0.0.0. Ngày hôm đó, Mèo Rừng 1 đã tuyên bố giữ lại cho mình các hang nước trong núi của ông ta và chia những vùng đất đai xung quanh ngọn núi đó cho các thành viên trong gia đình và bốn ahau cho bốn thị tộc cao quý khác, trong đó có Đại Bàng 1.
Hiển nhiên, nếu Mèo Rừng 1 đã từng tồn tại thật đi chăng nữa thì Chim Ruồi Có Nanh 9, ahau của các ahau đang trị vì hiện nay, cũng không phải hậu duệ chính tông của ông ta như mọi người vẫn tin. Tuy nhiên, không ai định phản đối quyền chiếm giữ các nguồn nước ngọt (tức là hệ thống tưới tiêu, nắm giữ nó cũng có nghĩa là kiểm soát gần hết nông nghiệp của Ix) mà ông ta được thừa hưởng, hay độc quyền của ông ta đối với nô lệ, nó đến từ thực tế rằng ông ta là người Ix duy nhất được phát động chiến tranh. Nhà Mèo Rừng cũng quản lý các phận sự của toàn bộ thành Ix, tức là các nghi lễ, và các bạn có thể gọi nó là quyền giáo hội. Họ còn có độc quyền săn bắn một số loài động vật nhất định ở hầu hết mọi nơi, quyền đòi lữ khách dâng tặng lễ vật – tức là thu thuế cầu đường – quyền phân chia chiến lợi phẩm thắng trận, độc quyền mua bán ngọc bích, vân vân và vân vân. Cứ một unial (tháng gồm 20 ngày) họ lại sở hữu một ngày, thêm năm ngày mỗi tun (năm dương lịch 360 ngày). Và quan trọng nhất, họ có độc quyền đối với các loại m* t** của cờ Hiến tế, một loại hàng hóa không thể thiếu, được những người đưa tin Hậu Duệ Bướm Đuôi Nhạn mang về từ Mexico.
Ái dà, - tôi nghĩ – vậy ra đây là chuyện buôn bán m* t**.
Sọ Đá Quý 2 nói còn có một loại m* t** thứ hai của trò chơi mà Răng Ngạnh 7 chưa bao giờ được thử, gọi là Bụi của Người Chèo Xuồng Già.
- Nếu ngươi gặp Người Chèo Xuồng Già, ngươi sẽ thấy ông ta thậm chí còn già hơn cả Muối Mặn Già, - ông ta nói, - ông ta già đến mức da chuyển sang màu xám đen. Ông ta đứng phía sau xuồng, với mái chèo dài trên tay.
Theo tôi hiểu thì Muối Mặn Già là tên nhân cách hóa của một loại m* t** gây xáo trộn không gian – tức là nó làm anh mất cảm giác về không gian. Và có lẽ, việc kết hợp hai loại này sẽ cho hiệu quả tương hỗ.
- Những người đếm mặt trời nói nếu ngươi có cả hai, họ sẽ ban cho máu ngươi nhiều chớp đến mức ngươi sẽ nhìn vào được cả lòng đá, như thời tổ tiên, cụ kị chúng ta.
Tuy nhiên, Sọ Đá Quý nói, ngay cả với độc quyền mua bán m* t** của trò chơi, nhà Mèo Rừng vẫn không phải bất khả xâm phạm. Thị tộc đó đã lung lay từ vài k’atun trở lại đây. Quá nhiều k’iik nhà Mèo Rừng có lối sống xa xỉ mà chả có mấy tí việc để làm. Họ ngày một nghèo túng đi. "Các uay của họ còi cọc đi", đó là cách nói của Sọ Đá Quý 2. Nó tương tự như ở Châu Âu thời xưa người ta nói máu của họ loãng dần đi. Vì một số lý do nào đó, những thế hệ gần đây của hoàng tộc Mèo Rừng có xu hướng không bình thường, bị đẻ non hoặc gặp trục trặc tương tự. Chim Ruồi Có Nanh 9 là một thằng lùn bẩm sinh, và chưa ai ngoài người thân trong gia đình được nhìn thấy bộ mặt ông ta lúc không đeo mặt nạ. Nguyên nhân chắc chắn không phải vì họ ăn bằng đĩa đúc từ chì của người La Mã cổ, nhưng chắc chắn họ đang làm gì đó không phải lối. Và thời gian gần đây, họ quản lý đất đai rất tồi, tiêu phí tiền của vào hội hè và xây dựng. Trong lễ hội vừa rồi, để ăn mừng "chiến thắng"trong trận bóng hông được dàn dựng trước, họ đã dùng rồi đốt bỏ lông của bốn mươi ngàn tám trăm con chim ruồi xanh tai tím, mỗi chiếc trị giá hơn một tháng công lao động của một tên nô lệ. Mà đó mới chỉ là một trong số hai mươi loại lông họ đã sử dụng.
Trong khi đó, thị tộc Đại Bàng và thị tộc Vẹt Đuôi Dài lại giàu lên, cả thị tộc Itz’un nữa, tuy có kém hơn một chút. Họ đã tổ chức những chuyến đường thông thương ngày một dài, chạy suốt từ Sonora đến tận Panama. Sọ Đá Quý 2 điều hành việc buôn bán sô-cô-la của đất nước này chẳng kém gì một tơ-rớt. Các nông dân trồng và thu hoạch ca-cao là nông nô nhà tròn thuộc quyền cai quản của ông ta. Hàng chục người làm nghề xát vỏ, lên men, phơi khô và rang hạt ca-cao – chế biến sô-cô-la cần rất nhiều công đoạn – đều được cai quản bởi những thành viên thuộc gia đình lớn của ông ta. Các thương nhân đường dài đều ít nhiều có quan hệ máu mủ với ông ta. Và ngay cả những hàng hóatrao đổi được đem về từ nước ngoài, như muối và đồ dùng bằng đá vỏ chai, cũng được cất trữ tại một trong những khu làng của Sọ Đá Quý 2 trong khi chờ ông ta quyết định nên bán ở đâu và bán vào lúc nào.
Gần đây, nhà Đại Bàng đã trở thành chủ nợ lớn nhất của nhà Mèo Rừng, và cũng như tất cả mọi hoàng tộc trên thế giới, các Mèo Rừng liên tục vỡ nợ. Mặc dù Sọ Đá Quý 2 không dùng khái niệm ấy, dĩ nhiên. Cách gần nhất để thể hiện nó trong tiếng Ix là nhà Mèo Rừng đã trở nên "không được chào đón". Tức là họ không được dâng tặng lại quà cáp nữa. Thay vì nhượng lại một phần tài sản gốc, như một vài quyền lợi đối với nguồn nước chẳng hạn, họ lại càng ngoan cố giữ rịt lấy, Chim Ruồi Có nanh 9 đã bắt đầu yêu sách "lễ mừng", tức là thuế bổ sung đối với các loại hàng hóa thậm chí chỉ đi qua đường của nhà Mèo Rừng.
Tôi hỏi về ba dòng họ quý tộc khác của Ix, Sọ Đá Quý 2 cho biết hai trong số đó, nhà Vẹt Đuôi Dài và nhà Itz’un,cũng ghét nhà mèo Rừng không kém gì nhà Đại bàng. Nhưng cũng như nhà Đại Bàng, họ có quan hệ họ hàng với nhà Mèo Rừng thông qua gả bán và nhận nuôi. Ông nội của Sọ Đá Quý 2 là anh rể của ông chú của Chim Ruồi Có Nanh 9. Chị gái của Chim Ruồi Có Nanh 9 là cô của tộc trưởng nhà Vẹt Đuôi Dài. Tộc trưởng của nhà Itz’un đã nhận nuôi hai đứa con trai của cháu gái của Chim Ruồi Có Nanh 9.Cứ thế, vân vân và vân vân. Và các dòng họ này đang hưởng rất nhiều quyền lợi xuất phát từ quan hệ họ hàng với thị tộc cai trị. Tấn công nhà Mèo Rừng cũng có nghĩa là đi ngược lại với lề lối xã hội, cũng như giết người trong gia đình thì tội lỗi hơn so với giết người lạ. Nó sẽ làm mọi thứ rối tung lên đến mức các gia đình khác cũng quay sang hận thù nhau. Và dĩ nhiên, anh không thể đụng vào bất cứ thứ gì thuộc về những người họ hàng đang "ở trong" họ Mèo Rừng.
Ngay cả khi, bằng cách nào đó, những điều khó xử trên tan biến thì Chim Ruồi Có Nanh 9 vẫn là một vị thần sống. Là tộc trưởng của thị tộc mèo cũng như làm giáo hoàng ở Ý vào thời phục hưng. Bất kể giáo hoàng là một thằng thộn đến mức nào, người ta vẫn tin là lão có đôi tai của Chúa. Ngay cả những tên lính đánh thuê dám nhúng tay vào bất cứ việc gì cũng sẽ không tấn công ông ta. Nếu anh muốn hạ bệ ông ta, tốt nhất anh nên đảm bảo rằng chính anh sẽ trở thành giáo hoàng, và phải thật nhanh chân vào. Nếu Sọ Đá Quý 2 tiến tới quyền lực ngày một vững chắc, nhà Mèo Rừng sẽ bị buộc phải đưa ông ta l*n đ*nh núi của họ và thừa nhận ông ta là người thừa kế hợp pháp. Họ sẽ dựng lên một phả hệ nào đó "chứng minh" Sọ Đá Quý 2 là hậu duệ trực hệ của Mèo Rừng 1, rồi tổ chức một cuộc bầu chọn vờ vịt tại popol na, tức là nhà hội đồng, để "chọn ông ta làm ahau. Nhưng theo lời Sọ Đá Quý 2, chuyện đó không có cơ xảy ra.
Hiển nhiên, ngay cả trong một xã hội chưa xuất hiện tiền tệ, của cải vẫn làm nên quyền lực, và có lẽ, nếu mọi chuyện được tiếp tục diễn biến theo đà này thêm vài k’atun nữa, nhà Đại Bàng sẽ giàu đến mức thuê lính đánh thuê để chọi lại nhà Mèo Rừng, hoặc có thể chiếm đoạt dần qua hôn nhân, hoặc có thể lôi kéo tất cả các thị tộc khác về phe của họ, hay gì đó. Nhưngnhà Mèo Rừng sẽ không để mọi chuyện đi theo đà như thế. Họ muốn sửa sai ngay lập tức, trước khi nhà Đại Bàng mạnh thêm, và họ đang soi mói hòng moi ra được một sự phạm thượng để gây hấn. Họ đã suýt moi được khi tôi phá hỏng lễ tái đăng quang của Chim Ruồi Có Nanh 9. Sau hôm đó, họ đã nghĩ ra một trò còn đáng sợ hơn.
- Nhà Mèo Rừng đã thách chúng ta có một trận bóng hông lớn, và ta đã chọn mặt trời này: Chảy Xiết 1, Sum Họp 0.
Tức là còn một trăm lẻ sáu ngày nữa. Theo Sọ Đá Quý 2, những trận bóng hông lớn chỉ diễn ra vào dịp "năm mới lớn", tức là bốn năm một lần. Lần cuối cùng đội nhà Mèo Rừng đấu với nhà Đại Bàng cách đây đã tám năm. Thời xưa, nhiều k’atun trước, những trận bóng hông lớn nhất thường được tổ chức giữa 1 ahau vĩ đại và tù binh quý tộc bị bắt từ những thành phố khác. Đó là cơ hội để vị ahau chứng tỏ mình còn đủ sức trị vì. Các trận đấu khác thường là đấu tay đôi giữa các anh em, các con trai hoặc con rể của ahau để giải quyết những mâu thuẫn có thể dẫn đến nội chiến. "Nhưng đến cái b’ak’tun suy đồi này của chúng ta", theo cách nói của Sọ Đá Quý 2, các chúa tể thường để những người chơi bóng hông chuyên nghiệp của nhà, như tôi – Chacal, thay mặt cho họ. Đôi khi thị tộc bị thách thức có thể tập hợp cả một đội toàn ngôi sao mượn hoặc thuê từ các thành phố khác. Nhưng lần này, nhà Đại Bàng không thể làm như vậy mà không mất mặt với người đời. Vì đội Mèo Rừng sẽ toàn người trong nhà họ nên đội đối phương cũng buộc phải gồm toàn k’iikĐại Bàng.
Thường thì thế cũng chẳng sao. Đội bóng của nhà Đại Bàng đã chơi tốt trong suốt ba mùa chiến tranh gần đây. Họ cũng là nguồn thu lợi lớn cho Sọ Đá Quý 2 bằng cách mang về tiền thắng cá độ và khuếch trương các thương vụ. Nhưng mùa này, đội nhà Mèo Rừng sẽ chơi tốt ngang ngửa hoặc hơn. Và, Sọ Đá Quý 2 nói, việc Chacal ra khỏi hàng ngũ chẳng phải điều có lợi gì.
Xin lỗi, - tôi nghĩ thầm.
Sọ Đá Quý 2 kể tôi hay – ông ta dùng rất ít lời nhưng nhiều ẩn ý – rằng trên danh nghĩa, được mời tham dự một trận đấu với hoàng tộc là một vinh dự lớn, nhưng thực chất đó thường là tai họa. Theo thông lệ, đa số thành viên của mỗi thị tộc đều muốn đặt cược một phần lớn tiền bạc của mình vào trận đấu. Sọ Đá Quý 2 sẽ phải chịu sức ép mang hơn nửa tài sản ra đánh cược cho đội nhà. Tổng cộng số tiền đặt cược của các đồng minh, phe cánh dưới trướng và những người M/H, ở ĐỘ CAO 381M SO VỚI MỨC NƯỚC BIỂN, 28,2M SO VỚI MẶT ĐẤT, và các dòng chữ chạy liên tục nắc đi nhắc lại những dòng cảnh báo như TRUYỀN PHÁT NỘI BỘ, ĐÂY KHÔNG PHẢI THÔNG TIN HIỂN THỊ RỘNG RÃI, thậm chí cả những dòng nhắc nhở không nên xem nếu bị chứng động kinh. Tầm mắt hướng lên trên, tôi thử cúi đầu xuống nhưng dĩ nhiên chẳng thay đổi được gì. Nó phụ thuộc hoàn toàn vào cặp mắt của anh chàng kia và anh ta đang tập trung nhìn về phía chân trời ảo (Chân trời ảo: Đường tương tự như đường chân trời thật nhưng nằm lệch lên trên hoặc xuống dưới) vẽ thành một vệt màu xanh da trời trên nền mây. Tôi tìm được kênh đàm thoại của WSO.
- ... no te preocupes amorcita, este es el caballo (Đừng lo em yêu, con ngựa ấy đây), - anh ta đang nói. Đó là điểm nút của một câu chuyện khôi hài nào đấy.
- Sí, pues.. .(Ừ, thế thì...), - một giọng đặc Guatemala đáp. Xem ra anh chàng WSO đang tán phép qua điện đàm với người kiểm soát không lưu địa phương như bạn bè lâu năm. Biết đâu chuyện này rốt cuộc sẽ ổn thỏa. Chắc họ phải dàn xếp trước với người Guatemala. Nhưng vậy thì những kẻ suýt đụng phải chúng tôi ở khu di tích là ai? Chỉ là một đội tuần tra nào đó không tham gia vụ dàn xếp ư? Chắc họ không muốn đưa quá nhiều người vào danh sách nhận tiền.
Chúng tôi bay gần như thẳng hướng đông, qua những triền dốc cao phía trên thác nước và rẽ sang hướng đông nam ở đúng quãng dòng Chisay đổ vào sông Río Cahabón. Một vách đá vôi xám xịt hiện ra trước mắt chúng tôi và thay vì vượt qua, viên phi công lại bay vòng dưới thấp và tiếp tục bay là là giữa dòng sông khiến tôi có cảm giác như đang trượt tuyết chứ không phải đang bay. Các tán cây như bao phủ lấy chúng tôi, nhưng rồi chúng tôi vượt qua và bay vào khoảng không trải rộng.
Một giọng nói khác xuất hiện trên kênh đàm thoại chính:
- Es este el vuelo 465-BA del poptún? (nghĩa là "Các anh có phải chiếc 465-BA khởi hành từ Poptún?")
Chỉ dẫn nhận dạng cho biết đó là giọng của một người gọi từ căn cứ Gúzman của sân bay quân sự Guate City.
- Correcto (Phải), - anh chàng WSO đáp.
- Perdone la molestia, mas el OC dice quépasa? (Xin lỗi đã làm phiền, nhưng chỉ huy hỏi có chuyện gì xảy ra vậy?)
- Có vụ việc gì đó bất ổn ở nam Chisec, - anh chàng WSO trả lời bằng tiếng Tây Ban Nha, - hạ sĩ Olaquiaga ở căn cứ Portún ra lệnh cho chúng tôi ứng phó.
- Tốt thôi. Tuy nhiên hình như hôm nay các anh đến muộn rồi.
- Nói thật, đó là lý do vì sao chúng tôi đang quay lại.
Á à, - tôi nghĩ. Té ra anh ta đang giả vờ chúng tôi là máy bay quân sự của Guatemala, cố lừa các kiểm soát viên không lưu càng lâu càng tốt. Điều đó có nghĩa là chúng tôi không hề có tay trong trong quân đội Guatemala.
Chiếc Hippo leo lên độ cao một ngàn feet khi bay qua đầu nguồn sông Oxec, nằm giữa dãy Cerro Tabol bên tay trái và sườn tây của dãy Sierra de Santa Cruz đồ sộ bên tay phải.
- ... đọc số hiệu chúng tôi cấp đi, - giọng gã Guatemala nói.
- GAC 465 BA, 20380-821809-234874211, - anh chàng WSO đáp.
- Chúng tôi phải kiểm tra lại, bằng không họ sẽ gây khó khăn cho anh khi bay qua biên giới.
- Tôi sẽ gọi cho họ.
- Sao các anh không dừng lại một giây? Bay chậm lại!
Tôi chuyển sang kênh 4, kênh đàm thoại của Marena và gọi. Cô ta trả lời. Tôi bảo cô ta rằng hình như phía Guatemala đã bắt đầu ngờ vực.
- Đó chưa chắc đã là vấn đề đâu, - cô ta đáp, - họ canh chừng các chuyến bay đến chứ không phải các chuyến bay đi.
- ... nhưng sao lại là hướng này? - một giọng Guatemala khác hỏi.
- Có khả năng một vài tên kh*ng b* đã rời đi bằng xe tải sáng nay, - anh chàng WSO bịa đặt, - ông ta muốn chúng tôi thử xem có thể phát hiện được chúng ở biên giới hay không.
- Thôi, được rồi, nhưng chúng tôi phải thu thập thông tin về mọi chuyến bay gần DMZ, - viên sĩ quan kiểm soát không lưu nói.
- Anh nên gọi cho Olaquiaga, - anh chàng WSO nói và bắt đầu đọc cả một loạt số điện thoại.
- Ông ta không ở căn cứ đó, anh phải gọi cho sĩ quan chỉ huy ở đó.
- Anh chuyển máy cho tôi được không? - anh chàng WSO đề nghị.
- Anh phải gọi bằng tần sóng của các anh.
- Tôi sẽ làm.
Anh ta tắt radio. Viên phi công - người tôi đoán là không bao giờ lên tiếng nếu không cần thiết - xuất hiện trên kênhKếT NốI TOàN Bộ. Tức là anh ta đang nói với toàn bộ hành khách trên chiếc Hippo.
- Xin thông báo, - anh ta nói, - chúng ta chuẩn bị tăng tốc.
Nhưng anh ta chưa kịp nói xong thì đầu tôi đã bị ấn dính vào cánh phải của chiếc ghế và chỗ da chùng trên hai má bị kéo ra sau thêm bốn hoặc năm đơn vị lực G. Anh ta vừa tắt cánh quạt và khởi động động cơ phản lực.
Thế là hết cả lén lút, - tôi nghĩ.
- Chờ một giây đã nào, - tiếng của viên sĩ quan kiểm soát không lưu Guatemala.
Giọng Ana hỏi:
- Anh nghĩ sao?
- Họ không biết mình đang làm gì đâu, - viên phi công đáp, - ta cứ duy trì tốc độ này.
Bàn tay phải của anh ta xoay nhẹ cần điều khiển nằm g*** h** ch*n.
Đám người Guatemala lại gào lên:
- 465 BA, căn cứ Gúzman CG đây, các anh đang làm gì thế?
Chúng tôi không trả lời.
- Xin lỗi, - viên sĩ quan kiểm soát không lưu nói, - các anh phải xin chỉ thị mới hoặc quay đầu và hạ cánh ở đây.
- No me quiebres el culo (Đừng làm tôi cuống lên), - anh chàng WSO nói, - không phải anh bảo tôi quay lại đấy chứ?
- Xin lỗi.
- Olaquiagase va a cagar (Olaquiaga sẽ ỉa đùn ra mất).
- Yo no te puedo asegurar que llegues salvo (tôi không thể đảm bảo an toàn cho các anh đâu), - giọng nói kia trả lời, - Te van a chingar por el culo. Agarra la onda (Họ sẽ cho các anh toi đấy. Thôi, chấp nhận đi).
Anh chàng WSO im lặng một lúc.
- Bueno, reconocido, Guzman (Tốt thôi,đồng ý, Guzman).
- Bueno (Tốt), - giọng nói kia trả lời và ngừng liên lạc.
Nhưng chúng tôi vẫn bay tiếp. Trên bản đồ đường bay, hành trình của chúng tôi đổi hướng. Chúng tôi bay xuống phía nam về phía hồ Izabal rồi bay ra Mar de Ias Antillas, tức biển Carribe. Tôi đoán ý định của viên phi công là làm cho họ tưởng chúng tôi đang quay về rồi sẽ tiếp tục hành trình, bay là là trên mặt nước, nơi không có các thiết bị phát hiện máy bay lớn.
Viên sĩ quan kiểm soát không lưu Guatemala lại xuất hiện trên radio.
- 465 Barcelona Antonio, atterrize en seco (465 Barcelona Antonio, quay vào đất liền và hạ cánh), - anh ta nói.
- Somos responsables del seguridad Corporal Olaquiaga (Chúng tôi phải chịu trách nhiệm về sự an toàn của hạ sĩ Olaquiaga), - anh chàng WSO lại bịa.
- No contestes. Pararse en seco desde ahora (Không lý do. Vào đất liền hạ cánh ngay).
Anh chàng WSO tắt liên lạc và thông báo với chúng tôi:
- Họ không cắn câu rồi.
- 465 BA, toma tierra a Poptún (465 BA, hạ cánh xuống Poptún ngay), - viên sĩ quan Guatemala nói rít răng, - Esto es el último apelar (Đây là lời yêu cầu cuối cùng).
- No puedo (Tôi không thể), - anh chàng WSO đáp, - xin gọi giúp sĩ quan chỉ huy của anh. - Anh ta tắt liên lạc và quay lại kênh đàm thoại với chúng tôi: - Tệ thật, - anh ta lẩm bẩm, - ta phải tuân lệnh thôi.
Viên phi công giảm tốc độ, bay song song với mặt đất và quay đầu vào đất liền.
- Các anh làm gì thế? - đó là giọng của Marena.
- À, nói ngắn gọn là họ vừa chặn đường chúng ta, - anh chàng WSO đáp.
- Chúng ta phải quyết định, - Ana nói, - hoặc để họ ép chúng ta hạ cánh, hoặc chuyển sang kế hoạch B.
- Được, - Marena đáp.
- Được gì? - Ana hỏi. Dừng một lát. - Đến lượt cô quyết định đấy. – Cô ta nói rành rọt hơn bình thường để đảm bảo máy ghi âm thu không sót từ nào.
- Kế hoạch B, bỏ chạy, - Marena nói.
- Rõ, - Ana trả lời. Thêm một phút im lặng. - Ô-kê, chúng ta sẽ chọn kế hoạch này, phải không? Có ai phản đối không?
Chuyện này sẽ vượt khỏi tầm kiểm soát mất, - tôi nghĩ, - có lẽ mình nên phản đối.
Không ai có ý kiến gì.
- Tốt, vậy thì từ lúc này trở đi, tôi là sĩ quan chỉ huy duy nhất, - Ana nói, - không ai được nghe lệnh từ Marena hay bất cứ người nào khác.
- Hoo - hah, - viên phi công đáp.
- Hwah, - anh chàng WSO đáp.
Họ nói gì vậy? - tôi thắc mắc - À. Ra là HUA (HUA, viết tắt của cụm từ tiếng Anh: "heard, underwood, and acknowledged" nghĩa là "nghe rõ, hiểu, đồng ý), nghĩa là nghe rõ, hiểu, đồng ý.
- Khoan, chờ chút đã, - anh chàng WSO nói. Anh ta bật một kênh đàm thoại khác, - Zepp gọi căn cứ NERV.
- Xin chào, Zepp, - giọng của một người da trắng đáp. Đó là tay chỉ huy bộ phận kiểm soát không lưu ở Stake., - căn cứ NERV đây, nói tiếp đi.
- Chúng tôi chuyển sang kế hoạch B, - viên phi công nói, - yêu cầu MD4.
- Nghe rõ, xin chờ một giây, - căn cứ NERV trả lời, - xem ra các anh gặp rắc rối hả?
- Quỷ tha ma bắt cái kế hoạch A.
Chúng tôi tiếp tục giảm tốc độ cho đến khi chỉ còn bay lờ vờ. Qua chiếc camera đặt ở mũi máy bay, tôi nhìn xuống một khoảng rừng đang cháy. Tôi đánh chữ "MD4?" lên bàn phím. Hình ảnh một tên lửa không người lái mang đầu đạn hạt nhân tầm thấp hiện lên. Nó thon mảnh, chỉ dài chừng sáu feetvới hai cánh mũi dài. Màn hình cho biết nó có tốc độ cao, được trang bị đầu đạn không đối không. Cha mẹ ơi. Ra là yêu cầu gửi tên lửa đến. Ối giời ơi. Toi rồi. Chúng ta sẽ bị bắn hạ ngay thôi. Thôi, ít như vậy cũng không đau đớn...
- Được rồi, Zepp, - tiếng anh chàng ở căn cứ NERV, - chúng tôi đã thấy tín hiệu của anh, bốn MD4 đã sẵn sàng phóng.
- Cảm ơn, NERV.
- Bảo bên kia là chúng tôi đang hạ cánh, - Ana nói.
- Được rồi, Guzmán. Chúng tôi đồng ý và đang quay về Puerto Barrios, - ành chàng WSO nói phét. Đường bay trên bản đồ của tôi quay một vòng khi máy bay của chúng tôi quay ngoắt lại.
- No Puerto (Không phải Puerto), - viên sĩ quan kiểm soát không lưu Guatemala đáp, - Pop... - tắt phụt.
- Zepp, - giọng từ căn cứ NERV, - MD4 đã phóng và đang bay tới chỗ anh.
- Cảm ơn, NERV, - anh chàng WSO đáp, - các anh có cài đặt thời gian đến đích không?
- Chúng tôi đã bay đến chỗ anh trong hai phút bốn mươi nhăm giây nữa. Các anh chỉ cần xoay sang hướng nam thêm bốn mươi độ nữa, như vậy chúng sẽ không phải quay đầu.
- HUA.
- Cẩn thận nhé, nghe rõ không?
- Rõ, cảm ơn NERV.
- Chuẩn bị xoay bốn mươi độ, - viên phi công nói. Anh ta nghiêng sang trái và nhấc chân khỏi bàn điều khiển động cơ đuôi, đưa chúng rẽ một vòng chóng mặt. Chúng tôi xé gió quay sang hướng nam, bay dọc một dòng nước hẹp giữa các hẻm núi và ra đến sông Moxela.
- Máy bay đánh chặn kia, - anh chàng WSO thông báo.
64
Tôi nhìn quanh nhưng không thấy chiếc máy bay nào. Tôi đoán ý anh ta là nó xuất hiện trên bản đồ. Tôi bật lên và phóng lớn màn hình. Nó bắt đầu chuyển sang tính năng của một giao diện. Phía trước chúng tôi, đườg biên giới Belize chi chít các trạm phòng không như một chuỗi đèn màu giáng sinh. Oa, đây rồi. Hai chấm đỏ đang lượn về phía chúng tôi theo một góc 310 độ. Tôi đặt con trỏ lên hai cái chấm và đánh chữ "IFF", nhận diện quân ta hay quân địch. Một cửa sổ hiện lên, rà soát tí hiệu ra-đa của nhiều chiếc máy bay khác nhau cho đến khi tìm được thông tin khớp. Dòng chữ "COMANCHE H-18 (?) AIRBORNE A+?" hiện lên. Tôi đoán chữ "A+?" có nghĩa là chúng được trang bị vũ khí nhưng không chắc là vũ khí gì. Tôi tìm thấy mục KHả NăNG ĐáNH CHặN trên danh mục và thấy nó vẽ ra hai đường tròn thể hiện tầm đạn, đường màu xanh lá cây bao quanh chúng tôi và đường màu đỏ bao quanh hai chiếc máy bay kia. Chúng gần nhau đến mức khó lòng mà an tâm được.
- Chúng không muốn bắn hạ chúng ta đâu, - anh chàng WSO nói, - chúng muốn tóm được một chiếc Hippo. Chúng sẽ cố ép chúng ta hạ cánh.
- Đừng quá chắc mẩm chuyện đó. – Ana nói.
Mẹ kiếp. Sao mình có thể lâm vào cảnh này được nhỉ? – tôi nghĩ bụng. Mới một tiếng trước, chúng tôi vẫn còn yên lành và ấm cúng trong căn điện của nhau, thong thả làm mọi việc và bây giờ chúng tôi có cơ toi mạng trong tay không lực Guatemala. Sao Ana không để họ bắt chúng tôi cho xong nhỉ? Warren có thể dùng tiền cứu chúng tôi ra chỉ trong một tuần. Không, chỉ hai ngày thôi. Thời gian biểu có gì mà quan trọng đến thế. Ý tôi là nó cũng quan trọng, nhưng… mẹ kiếp. Đơn giản là tôi không chịu hiểu rằng những gã này luôn sẵn sàng đưa mọi chuyện đi xa hơn nữa. Quân ôn vật. Thằng ngu. Mày biết mà, Jed, mày muốn tự dối mình rằng mày đang làm việc với bọn con buôn, nhưng thực ra mày đang dính líu với lũ côn đồ. Và thành thật mà nói, mày vẫn luôn biết điều đó. Vì thế, đừng…
Chúng tôi bay lên cao, hướng về trung tâm dãy Sierra de Santa Cruz với tốc độ hai ngàn feet một phút và lao vụt qua một vách núi xanh với hẻm núi đá phấn trắng hẹp. Vòng tròn đang dịch chuyển về hướng nam thu hẹp lại và chúng tôi đang bám theo nó với tốc độ 340 dặm một giờ, bay sát sàn sạt các vách núi. Trên bản đồ, hai vòng tròng thể hiện tầm bắn mỗi lúc một tiến lại gần nhau và chuẩn bị tiếp xúc.
Ôi thôi, thế là hết cả hầm lẫn mộ, - tôi rên lên trong bụng. Còn lâu chúng tôi mới có thể quay lại phế tích Ix một lần nữa. Hoặc có thể chẳng bao giờ. Việc duy nhất chúng tôi có thể làm là tìm hình chữ thập đá nam châm – đấy là nếu như chúng tôi về được Stake, một điều xem ra càng lúc càng ít chắc chắn, ý tôi muốn nói đến – tôi nghĩ tôi đã nói rồi – hình chữ thập mà Jed 2 phải chôn bản sao của các mẩu ghi chép về cờ Hiến tế. Và đến lúc này, chúng tôi lại hy vọng nó nằm cách Ix đủ xa để chúng tôi có thể lén quay lại vào đào lên mà không bị lính Guatemala quấy rầy. Và đấy là nếu Jed 2 làm được điều đó. Bao nhiêu cái "nếu" rồi không biết? – tôi tự hỏi. Cả đống…
Một loạt chấm sáng khác xuất hiện trên bản đồ, đến từ hướng bắc.
- Tốt rồi, đó là MD4 của chúng ta, - anh chàng WSO nói.
Chúng tôi bay chậm lại. Các đốm sáng tăng tốc va bay sát vào dưới chúng tôi như những con cá thuyền. Tôi đoán họ làm vậy để giấu chúng trong phạm vi tín hiệu ra-đa của chúng tôi.
- Được rồi, NERV, chúng tôi đây rồi. – anh chàng WSO thông báo.
- Nghe rõ, Zepp, chúng tôi đang tháo dây. Nhận lấy nhé.
- Cảm ơn. Nhận được rồi. À này, Keelorenz muốn biết chắc là các anh đã sắp xếp ổn thỏa "đàn vịt", - ý anh ta muốn nói đến những chiếc thuyền đón chúng tôi.
- Đàn vịt ổn rồi.
- Tốt.
Tôi chỉnh thanh cuộn trên bản đồ đường bay cho đến khi nhìn thấy dây thuyền. Chúng tôi có bốn chiếc ở hai nơi để lựa chọn, hoặc ở Mar de las Antillas, hoặc ở vịnh Mexico. Liệu có phải nhảy dù không đây? – tôi tự hỏi. Không rõ vì sao nhưng tôi rùng mình. Không, không có chuyện ấy đâu. Họ sẽ hạ thấp máy bay cho chúng tôi xuống. Rồi sau đó tôi lại nghĩ hai anh chàng này có thể sẽ hạ cánh xuống quần đảo Keys, trả lời thẩm vấn, ở tù một khoảng thời gian và được đền bù thảo đáng.
- Tôi thấy chúng rồi, tôi thấy chúng rồi, - anh chàng WSO nói. Tôi đẩy thanh cuộn lên chỗ hai chấm sáng của quân địch. Trên màn hình ghi "(2) US-B/CAH#220?". Như thế có nghĩa là đây là hai máy bay trực thăng Comanche của Guatemala. Chúng chở theo rốc-két.
- Chúng ta nên sẵn sáng đón một phát đạn, - viên phi công nói. Anh ta đã đổi hướng bay bốn mươi độ về hướng tây bắc, về phía Punta de Manabique.
- Tốt hơn hết là nhanh chân lên, - anh chàng WSO nói, - nhanh lên, nghiêm túc đấy.
Chúng tôi bay vào một đám mây dày đặc, trong một giây, tôi có cảm tưởng như chúng tôi đang lún trong mớ bông, và rồi chiếc máy bay lao khỏi đám mây ra khoảng thời xanh.
- …no me friegues (đừng phí thì giờ nữa) – một chiếc Comanche kêu gọi, - hạ cánh và đầu hàng đi.
- Bảo chúng cứ thử đi, - Ana nói.
Chắc ở đây họ không làm theo luật nữa, - tôi nghĩ. Thường thì anh không được trao đổi với phe bên kia. Có lẽ ES đã bỏ qua luật đó kể từ khi họ chuyển sang lĩnh vực bảo vệ tư nhân.
- Nghe này, hai Comanche, hãy tránh đường cho chúng tôi, - anh chàng WSO nói.
- Vớ vẩn, - một trong hai chiếc Comanche đáp.
- No les hables (đừng nói chuyện với chúng), - một viên sĩ quan kiểm soát không lưu Guatemala cắt ngang.
- Quay lại đi, - anh chàng WSO nói, - các anh đang đâm đầu vào việc mà mình chưa sẵn sàng đấy.
- Các anh nên đầu hàng đi!
- Chúng tôi có vũ khí hạng nặng, các anh sẽ bị bắn hạ đấy.
- Mẹ chúng mày, - viên phi công Guatemala rủa.
- Chúng tôi không muốn bắn hạ các anh. Đi đi. Cơ hội cuối cùng đấy, - anh chàng WSO nói xong, tắt liên lạc và quay về kênh đàm thoại với chúng tôi. – Được rồi, toàn đội, nghe cho kỹ này. Đề phòng trường hợp chúng ta…
Tiếng còi báo động mục tiêu tới gần rít lên.
Ôi, mẹ kiếp, - tôi nghĩ.
- Ôi, mẹ kiếp, - viên phi công thốt lên.
- Lạy đức mẹ Maria. Phải bắn thôi!!! – anh chàng WSO nói, - Khốn nạn thật! Đường lo, chúng ta phải trù liệu những việc như thế này khá thường xuyên…
- Thử mức năm mươi nhăm, - tiếng người ở căn cứ NERV, - bốn và sáu phẩy bốn mươi hai.
Một luồng sáng hồng rực chiếu vào cabin khi tia laze nhắm mục tiêu của phía Guatemala quét qua chúng tôi. Tôi nuốt vào một bãi nôn chực phun ra. Toi cả lũ rồi, - tôi lầm bầm không thành tiếng với cái lưỡi trai trên mũ, - không thể tin được mình lại bị lôi kéo vào chuyện này, không thể tin được, không thể tin được, không thể tin được. Tôi nện xuống đùi mình.
- Nghe rõ, - viên phi công đáp, - chúng tôi sẽ chỉnh sang chín mươi nhăm ở tầm thấp.
- Bán kính thấp nên là một trên tám mươi.
- Cứ lấy một trên bảy mươi đi.
Một chấm đỏ xuất hiện trên màn hình của tôi và hình như không di chuyển, không có vẻ gì giống một vật đang lao về phía chúng tôi. Chào mày!!!
- Xong rồi. Nào, đếm từ mười nhé.
- Được, chú ý nào.
Viên phi công mở đồng thời vài vị trí trên vỏ động cơ và cánh quạt nghiêng khiến chiếc máy bay gần như quay ngoắt một trăm tám mươi độ. Đầu tôi như muốn văng khỏi xương sống. Bất thình lình, các tua-bin quay chậm lại và tốc độ cánh quạt cũng thay đổi khiến chúng tôi gần như đứng yên trong không trung và không khí bên trong máy bay yên ắng một cách lỳ quặc. Tôi thấy bẵng một cái khi chúng tôi lao xuống. Không sao đâu, - tôi thầm gào lên với mình, - không sao đâu mà, vẫn còn cả đống không khí bay xuống dưới tầng mây thấp và tôi có thể nhìn thấy chấm đèn hiệu màu đỏ của ngọn hải đăng Punta de Amatique cách chừng một dặm về hướng đông. Chúng tôi bay qua vịnh theo hướng đông bắc.
- Được rồi, mục tiêu vẫn đang áp sát, - anh chàng WSO thông báo, - chín mươi. Tám mươi năm.
- Được rồi, - Viên phi công nói, - Chú ý.
Động cơ quay chậm lại và tôi thấy chúng gần như dừng hẳn.
Bên mạn trái, một tên lửa MD4 đã khởi động theo tín hiệu bằng nhiệt. Chúng tôi rơi xuống. Ở độ cao khoảng hai ngàn feet, viên phi công xoay cánh quạt về vị trí cũ nhưng vẫn để máy bay gần như rơi thẳng về phía đám bọt bể sát mép bờ bán đảo, xuống tới tầng không khí dày đặc hơn giúp làm giảm xác suất trúng mục tiêu của rốc-két ATA. Tôi có cảm giác như chúng tôi đang sục vào bơ lạc mềm. Trên bản đồ của tôi, đầu tên lửa trông như đang treo lơ lửng cạnh vị trí cố định của chúng tôi ở giữa màn hình, chốc lại nhón chân tiến gần hơn một chút rồi lại lảng xa ra.Ở độ cao dưới hai mươi feet so với mức nước biển, viên phi công điều khiển máy bay vọt lên cao theo một đường parabol êm đến chóng mặt. Tôi cảm thấy hai hòn d** như chạy ngược lên qua ống bẹn rồi qua đường tiêu hóa lên tới tận miệng. Tôi nuốt chúng xuống. Xin thề rằng tôi thực sự cảm nhận được cả hai, hòn bên phải to hơn hòn bên trái và tôi phải nuốt xuống từng hòn một. Một tiếng PHụụPPP vang lên bên dưới chúng tôi, nghe như tiếng một đầu van an toàn bật khỏi chiếc máy pha cà phê khổng lồ, đó là lúc chấm màu đỏ bay ngang qua chúng tôi, nó lao theo cái mồi nhử xuống nước. Tôi không được chứng kiến vụ va chạm, nhưng chắc hẳn quả rốc-két đã dâm xuống vị trí chỉ cách chúng tôi chừng một trăm feet, ngay sát ngọn hải đăng. Sức ép đè lên cabim và những tiếng răng rắc phát ra cùng một lúc khi lớp vỏ hợp kim của chiếc Hippo dãn nở dưới tác dụng của nhiệt. Cửa sổ gần lõm cả vào bên trong do sức ép và khi trở lại hình dáng bình thường thì đã đẩy vết nứt rạn. Sỏi đá đập rầm rầm vào bộ càng má bọc sợi tổng hợp. Chúng tôi bay cao lên, sau đó tất cả trở lại bình thường. Tôi bật camera đặt ở đuôi máy bay. Tất cả những gì tôi nhìn thấy là đám mòng biển bay nháo nhác và một đám hơi nước nhìn như đĩa khoai tây nghiền to bằng tòa nhà mười tầng. Không hiểu sao tôi lại nghĩ tới lũ cá vẹt chết oan. Chiếc máy bay lấy lại tư thế thăng bằng, thẳng hướng tây bắc ra vịnh Honduras và lại bay cao lên.
- Nhanh lên, - anh chàng WSO nói, - chúng vẫn còn năm đầu đạn nữa. Đừng để mất thời gian.
Chúng tôi bay lẫn vào mây và tiếp tục bay cao lên. Cái trò nhảm nhí này, - tôi rủa thầm. Nếu thích chơi trò chiến tranh , tôi đã vứt mẹ cái đống điểm sát hạch vào đại học mà gia nhập lính thủy đánh bộ, làm giả giấy khám sức khỏe và bốc hơi ở Irap rồi. Tôi liên lạc với kênh 4.
- Marena? – tôi gọi, - em ổn chứ?
Tôi không nhìn thấy mặt cô ta qua camera trên mũ, hay chính xác hơn, cô ta chỉ hiện lên dưới dạng một cái nhãn để tên.
- Em không sao, - vài giây sau mới có tiếng trả lời, - em vừa nhận được điện thoại của Max. Em sẽ gọi lại cho anh sau.
Tắt phụt một nhát.
Tôi ngửi thấy mùi bãi nôn nằng nặng, điểm thêm mùi nước biển và có lẽ cả mùi phân nữa. Ai đó đã sợ đến mức để cho tất cả những thứ ấy tuôn ra. Chắc là Michael rồi, - tôi nghĩ. Đúng là thẳng hèn.
- Quay lại đi, - anh chàng WSO nói qua radio. – Tôi sẽ bắn hạ đấy. Tôi sẽ bắn hạ đấy.
- Muerancen huecos (chết đi, lũ đồng tính), - viên phi công Guatemala đáp. Còi báo động của chúng tôi lại rít lên. Chết tiệt. Tôi lại lên một cơn hoảng hồn nữa và rúc lọt thỏm vào cái ghế với cảm giác an toàn giả dối.
- Ana, cho hắn một phát đạn đi, - viên phi công nói.
- Được thôi, - Ana đáp, - mẹ cái lũ ấy. Nhắm mục tiêu. Tấn công.
Trên màn hình của tôi, một cửa sổ nhỏ hiện lên thông báo chiếc máy bay gần hơn là mục tiêu của đầu đạn MD4 thứ hai. Theo mô tả, tên lửa MD4 là loại phương tiện hàng không không người lái đa tính năng. Chúng có thể được dùng làm mục tiêu đánh lạc hướng đạn rốc-kết như vừa rồi, nhưng cũng có thể đóng vai trò tên lửa tấn công. Chúng chậm hơn rốc-két ATA, tốc độ chỉ bằng tên lửa Sidewinder hay gì đó nhưng vẫn có thể bay đến bên cạnh một chiếc máy bay, lên áp sát và nổ tung. Tôi dõi theo đầu đạn MD4 thứ hai tách khỏi máy bay của chúng tôi và lượn về phía hai chiếc Comanche.
- Mày sắp toi rồi đấy, thằng ỉa đùn, - anh chàng WSO của chúng tôi nói qua radio.
- Thằng phét lác, - viên phi công Guatemala đáp.
Trong lúc đó, đầu đạn ATA thứ hai đã tiến sát tới đuôi chúng tôi.
- Tôi sẽ bắt chúng lui hẳn lần này, - anh chàng WSO nói với chúng tôi.
Tôi phóng lớn hình ảnh thu từ camera đặt ở đuôi máy bay. Một chuỗi thứ gì đó nhìn như hàng ngàn đốm lửa bắn tung tóe sau chúng tôi, như thể chiếc máy bay của chúng tôi đang đẻ ra cả một đàn sứa vàng. Mỗi đốm lửa thực chất là một quả bóng ni lông trắng kim loại nhỏ có thể tự bơm căng, bay theo một chuỗi dài những sợi tua và một thân pháo sáng cháy đùng đùng. Trên màn hình trông thấy chiếc trực thăng đang bay lờ đờ sát mặt biển với một quả cầu hơi nước bao quanh, b*n r* những tia lửa cháy rừng rực. Một chiếc ghế phóng để nhảy dù lúc nguy cấp bật lên khỏi đám khói và hơi nước. Nó bật lên khá cao nhưng không mở được dù, vì vậy, viên phi công Guatemala vẫn ngồi trên chiếc ghế, lao xuống theo một đường xoáy như quả cầu lông bị vẹo, để lại phía sau những tàn lửa hồng của nhựa cháy.
- Dios mio (lạy Chúa tôi), - anh chàng WSO lầm rầm, và qua giọng nói, tôi biết chắc anh ta đang làm dấu thánh giá.
- Viên phi công phụ có nhảy dù được không? – Ana hỏi.
- Tôi nghĩ là không. Thứ thiết bị ấy chỉ là đống bỏ đi, - anh chàng WSO đáp, - chúng có làm ăn được gì bao giờ đâu.
- Chết tiệt. Tôi phải chịu trách nhiệm việc này, - cô ta nói.
Chúng tôi bay qua xác chiếc máy bay. Mặt nước đang sủi tăm. Chiếc Comanche thứ hai đã xuất hiện trên màn hình. Tôi đoán nó chuẩn bị khai hỏa, nhưng không hề. Có lẽ viên phi công đã hãi chúng tôi, hoặc chỉ huy của hắn ra lệnh cho hắn không được dây vào.
Chúng tôi lại rẽ hai mươi nhăm độ sang hướng bắc, bay vào vịnh Honduras. Chúng tôi bay qua điểm gần nhất với chiếc Comanche thứ hai. Không có chuyện gì xảy ra. Chúng tôi bay tiếp.
Dù sao, - tôi nghĩ, - chắc mọi chuyện cũng sẽ ổn thỏa thôi. Không sao đâu.
Không ai nói gì trên kênh liên lạc chung, vì vậy tôi ấn phím ngồi từ vô khối thời gian. Chưa phải ain cũng đã bình tâm lại sau chuyện vừa rồi. Hơn nữa, chúng tôi vẫn chưa về đến nhà an toàn. Tôi nhận thấy tốc độ đã quay về 600km/h. Tôi chuyển sang nhìn bằng chiếc mũ của anh chàng WSO. Anh ta đang kiểm tra lướt qua một loạt các tần sóng liên lạc. Có hàng tá người trong cơn tức giận đang gào lên bằng tiếng Tây Ban Nha và một vài câu tiếng Anh. Tôi nghe được mấy từ "cho cất cánh toàn bộ". Nghe có vẻ không lành lắm.
- Có chuyện gì thế? – Ana hỏi anh ta.
- Không hay lắm, - anh ta đáp, - tôi nghĩ căn cứ Tyndall đang đưa thêm máy bay đến. Có lẽ họ đã trao đổi với căn cứ Belize.
- Chết tiệt.
- Tuy nhiên, bên nào cũng nghĩ chúng ta thuộc phe bên kia.
- Hay thật đấy, - cô ta đáp, - Thôi được, thế anh nghĩ sao?
- Tôi nghĩ chúng ta sắp bị chụp ảnh.
- Chết tiệt.
Hẳn nhiên là họ vẫn nuôi ý định đưa chiếc máy bay này về Stake nguyên vẹn.
- Để tôi nghĩ một giây.- Ana nói. – Chiếc thuyền A còn cách bao xa?
- Khoảng… Ờ… một phẩy năm phút. Nó đang ở Northeast Cay.
Tôi mở rộng cửa sổ bản đồ. Nó đang hiện hình ảnh tối thiểu mười hai chiếc trực thăng và phản lực khác đang lao tới, trong đó có cả hai chiếc F-22 Raptor đến từ căn cứ Belize
- Chúng ta còn khoảng bốn phẩy năm phút nữa, - anh chàng WSO thông báo, ý anh ta là trước đợt đánh chặn thứ hai của quân địch.
Một khắc im lặng ngắn ngủi nhưng nặng nề.
- Tốt thôi, - Ana đáp. Cô ta vào kênh liên lạc chung. – Tất cả chú ý. Chúng ta chuẩn bị bỏ chiếc máy bay này.
-Từ từ đã, - viên phi công nói. Lần đầu tiên anh ta tỏ vẻ hơi bối rối. Chắc anh ta không quen với việc vứt bỏ những thứ còn tốt.
- Việc này không ảnh hưởng gì đến lương lậu, tiền thưởng hay quyền lợi của bất cứ ai đâu. – Ana nói. – Dù sao đó cũng là lựa chọn duy nhất, nếu không chúng ta sẽ phải hạ cánh ở Miami và ngồi chờ xem họ có đưa được chúng ta ra khỏi tù trước lễ Giáng sinh hay không.
- Không được, nếu thế chúng ta sẽ chỉ còn cách quên toàn bộ dự án này đi. Jed, phải về được Stake để giải mã các thông tin. Gọi cho LW mà xem, ông ta cũng sẽ nói thế.
- Nào, - Ana nói, chắc là với viên phi công.
- Thôi được, - anh ta đáp, - làm thế vậy.
- Tốt.
- Chúng ta đang bắt được tín hiệu từ "Con vịt Alpha", cô muốn gọi không?
- Cứ cho khởi hành toàn bộ và bảo họ đi theo tín hiệu của bè cứu sinh, chứ không phải đến chỗ chiếc máy bay này. Và đó sẽ là lần liên lạc cuối cùng. Họ sẽ phải tìm chúng ta. Hiểu chứ?
- Hiểu.
- Nhưng nghe này, anh phải làm cho giống một vụ tai nạn.
- Để làm gì? Lấy bảo hiểm à?
- Phải đấy. Sao nào? Anh định nói với ai chuyện ấy à?
- Không, không…
- Thế thì tốt, - Ana nói. Chúng tôi bay thẳng hướng đông bắc, qua dãy Laurence Rock rồi qua Ranguana Cay, một hòn đảo chia thành hai múi hình dáng như con trùng đế giày nằm giữa một dải dài màu xanh lục trong vắt của san hô sống.
- Chúng ta không có thiết bị nổ điều khiển từ xa, - anh chàng WSO nói.
- Nhưng các anh có kíp nổ chứ, phải không? – Ana hỏi.
- Phải. Hai cái.
- Vậy hãy dùng một cái để làm bắt lửa một ít xăng.
- Ở trên này không có thùng xăng dự trữ, - anh chàng WSO nói, - ừm… có lẽ tôi sẽ khoan một lỗ trên ở dầu nhờn.
- Ý hay đấy, - Ana đáp, - Được rồi. Sóng thế nào.
- Năm feet, - anh chàng WSO nói, - không sóng lớn.
- Nhiệt độ không khí?
- Bảy mươi tư. Sức gió mười lăm trên bốn mươi.
- Nhiệt độ nước biển?
- Sáu mươi.
- Tốt. Gendo?
- Vâng, thưa chỉ huy.
- Đặt chế độ tự động để đưa chúng ta từ từ xuống gần thuyền A.
- HUA, - viên phi công đáp, té ra bí danh của anh ta là Gendo.
- Nhưng đừng để cái thứ chết toi này bay vào không phận Cuba.
- Vâng, rõ
- Và hãy đảm bảo rằng nó không rơi xuống đầu bất kỳ ai, - Marena xen vào.
- Chúng tôi sẽ làm mọi việc có thể.
Viên phi công giảm tốc độ xuống còn hai trăm cây số một giờ. Chúng tôi bay qua đảo Silk vào biển Mar de Antillas, hướng đến cái vạch màu xanh tím sẫm của hải lưu Gulf Stream ở cuối đường chân trời.
- Tất cả sẵn sàng, - Ana ra lệnh. – Bỏ mũ.
Tôi bỏ mũ xuống. Nó có quạt thông gió, thế mà cái đầu gần như hói trụi của tôi vẫn có nhỏ giọt mồ hôi và không khí như đóng băng lại trên đó. Marena, Lisuarte, Michael, Hitch, Grgur và tôi, tất cả đều liếc sang nhau, trong đầu phân vân không biết ai là người đã nôn lúc nãy. Chúng tôi lao xuống khá nhanh. Ana từ đằng sau len qua chúng tôi. Cô ta vừa lấy trong tủ ra một chiếc cưa không dây và trèo vào cabin chỗ anh chàng WSO.
- Nhờ xóa hết thông tin trên các đĩa khác, - cô ta vừa dặn vừa bắt đầu cưa vào một rãnh nhỏ trên bản gần thiết bị phía trên đầu, giống như đang nạy đồ hộp.
Không có chiếc mũ, tôi không biết chúng tôi đang bay với tốc độ bao nhiêu, vì thế, tôi bèn nhìn xuống bảng điều khiển, nhưng cũng không thấy. Tuy nhiên, có vẻ như chúng tôi đang lao xuống với tốc độ hai mươi dặm một giờ.
- Tất cả tháo dây bảo hiểm, - Ana ra lệnh qua loa, - mặc áo phao và kiểm tra tai nghe.
- Nào, Jed, bắt đầu nhé? – Marena nói. Sau vài lần thử, họ lôi được tôi ra khỏi chỗ ngồi. Cô ta giúp tôi mặc một chiếc áo phao mỏng màu vàng, không khác gì đang thay bỉm cho tôi. Cô ta đưa tôi một cặp kính bơi thuyền bình thường. Cuối cùng, cô ta lôi ra một chiếc mũ giống như mũ bảo hiểm cho người đi xe đạp, với một bóng đèn hiệu nhỏ trên chóp và chụp nó lên đầu tôi. Tôi nhận thấy tất cả đều đã đội một chiếc như thế.
- Nhớ đừng tắt tai nghe nhé! – Marena nói. – Và nhớ để mở kênh liên lạc để có thể liên lạc với cả đội. Được chứ?
- Vâng, - tôi đáp, - thưa cả đội.
Tôi nhận ra rằng tuy tôi vẫn tỉnh táo nhận thức được mọi việc như thường nhưng cử động thì tôi không ổn lắm. Chắc là mình mệt quá thôi, - tôi nghĩ. Nào l*m t*nh, nào leo lên, nào leo xuống, nào thức đêm, cũng khá nhiều căng thẳng đấy. Rồi, mình sẽ đánh một giấc trên xuồng. Không sao đâu. Michael, người tỏ ra hiểu biết đôi chút về máy bay, chen qua chỗ tôi, kéo theo hai bọc lớn màu vàng, bơm căng lên sẽ trở thành hai chiếc bè cứu sinh đầy đủ tiện nghi với mái chèo có thể gập lại và thậm chí cả động cơ nhỏ gắn ngoài với lượng nhiên liệu đủ chạy được một dặm. Ana từ buồng lái quay ra, tay cầm theo một khối màu xam xám có vẻ dễ vỡ. Tôi đoán đó là ổ cứng của máy ghi âm trên máy bay. Cô ta ngồi xuống sàn, cúi xuống cái ổ, lôi từ trong đó ra một cái chiếc hộp nhựa bé xíu và dùng chiếc tua vít xọc mạnh vào nó. Michael buộc hai chiếc xuồng vào khoang chở hàng và món chúng vào một cái quai móc bên trên cửa trái. Tôi đoán là chúng tôi cũng sẽ xuống như thế.
Ana đứng lên.
- Nào, - cô ta nói, - mọi người đều nghe thấy tôi chứ?
Mọi người đều nghe thấy.
- Sẵn sàng rời máy bay rồi chứ? Mũ bảo hiểm ổn cả chứ? Tốt. Thứ tự sẽ là Gendo xuống trước tiên với chiếc xuồng thứ nhất. Asuka và Pen-Pen theo sau ngay lập tức. Tiếp đến là Akagi và Kozo. Zepp lên xuồng thứ hai. Rồi đến Marduk và Shiro. Cuối cùng là tôi. Vậy là năm người trên xuồng thứ nhất và bốn người trên xuồng thứ hai. Rõ rồi chứ?
Tôi đoán là tất cả đã rõ. Anh chàng WSO len qua chúng tôi xuống đuôi máy bay. Anh ta bò xuống tít phía cuối, giật một tấm vách trên sàn và bắt đầu chọc ngoáy thứ gì đó.
- Tốt rồi, - Ana nói. – Nhớ rằng khi tất cả đã lên thuyền, chúng ta sẽ chuyển sang thuyền C ngay khi có thể, vì thế phải luôn sẵn sàng mọi trang thiết bị. Rõ chứ?
Tất cả đều ra ít nhiều ra hiệu "rõ".
- Áo phao của mọi người sẽ tự động bơm căng khi gặp nước. Hoặc nếu không, hãy thổi vào cái van nhỏ. Mọi người điều biết cách nhảy quay lưng rồi chứ?
Không ai trả lời.
- Như trên tàu Jacques Cousteau ấy, - cô ta nói tiếp, - có ai sợ việc này không? Pen-Pen?
- Tôi sẽ nhảy, - tôi đáp.
- Anh ấy nhảy được, - Marena nói.
- Có ai còn bỏ sót bất cứ vật gì khiến họ nhận dạng được chúng ta không? Còn ai chưa tháo hết dây bảo hiểm không? Pen-Pen?
Xem ra tất cả đều đã sẵn sàng.
- Tốt. Hãy nhớ, cứ thả nổi người. Đừng quẫy đạp. Chúng tôi sẽ vớt các vị lên.
- Chúng ta sẽ nhìn thấy chiếc thuyền trong khoảng tám mươi giây nữa, - viên phi công thông báo, - cô có muốn gọi họ không?
- Không phát tín hiệu nữa, dưới bất kỳ hình thức nào, - Ana đáp, - họ sẽ tự nhìn thấy đèn hiệu.
Cô ta dùng nắm đấm nện một phát lên trần và cánh cửa lớn bên mạn trái mở ra. Áp lực tăng lên như thể chúng tôi đang đứng trong một quả bóng bị thổi quá căng. Mẹ kiếp, ngoài kia còn sáng quá, - tôi nghĩ. Chúng tôi còn cách đỉnh sóng cao nhất chưa đến mười feet và ngay cả với tốc độ chậm như thế này, tôi vẫn cảm thấy như chúng tôi đang lao đi vùn vụt trên đám bụi nước. Ở đằng chân trời, ngay trên những đám mây thấp bao phủ Northeast Cay, mặt trăng sáng trắng in rõ mồn một hình Con Thỏ Vấy Máu đang vụt chạy trốn khỏi các Chúa Tể của Bóng Đêm. Ana quăng chiếc máy ghi âm chuyển bay ra khỏi cửa.
Có tiếng xè xè ở phía cuối máy bay và mùi WD-40. Tôi nhìn quanh. Trên sàn ngay cạnh chân anh chàng WSO là một tia chất lỏng phun lên. Anh ta đã đục thủng một trong mấy cái ống dầu nhờn và đang hý hoáy với thứ gì đó nhìn như chiếc đồng hồ kỹ thuật số rẻ tiềnCái kíp nổ. Cha mẹ ơi. Đến lúc phải đi rồi.
- Được rồi, đi thôi, - Ana nói.
Gendo – người mà lúc này nhờ hệ thống lái tự động nên chẳng còn việc gì phải làm nữa – tháo chiếc xuồng đầu tiên, đẩy nó ra khỏi cửa và biến mất theo nó sau một cú nhảy ở tư thế ngồi quay lưng.
- Xong, - Ana gào to.
Marena nắm vai tay tôi, ấn tôi ngồi xuống.
- Nào. Ba, hai, một. Nhảy.
- Từ từ đã, - tôi kêu lên, nhưng không thành tiếng. Mặt nước hỗn độn bên dưới chúng tôi nhìn như đang nằm trên một cái máy mài nhám. Marena kéo tôi ngã ngửa ra sau cùng cô ta và chúng tôi rơi vèo khỏi ô cửa, như một chiếc tách và một chiếc đĩa rơi khỏi bàn trả xuống nền gạch.
65
Chúng tôi lượn vòng trên thành phố Osxaca. Loại máy bay CH-138 Kiowa này nhỏ bé, chậm rãi và thoáng đãng, ngược hẳn với chiếc Hippo. Bên dưới chúng tôi, cách chừng một ngàn năm trăm feet, các bãi đất chăn nuôi trồng trọt dần nhường chỗ cho những cánh rừng, và khi đất đai uốn dốc lên vùng cao nguyên thì rừng nhường chỗ cho các trảng cây bụi. Bây giờ là 9 giờ 40 phút sáng, ngày 29 tháng 2, một ngày không tên, không thánh thần bảo trợ, cứ sau 1040 ngày mới có một ngày và vì lẽ nào đó tôi luôn cảm thấy đó là một ngày may mắn, trái với quan niệm của người Maya. Đã năm ngày kể từ vụ khó chịu nho nhỏ mà chúng tôi phải trải qua trên vịnh. Trời nắng, nhiệt độ là 68oC và chúng tôi đang ở cái độ cao dễ chịu là 8.400 feet so với mặt nước biển. Mười sáu tiếng trước, chúng tôi được thông báo một trong các vệ tinh cảm ứng từ tính đã định vị được chữ thập đá nam châm.
Nó vẫn thuộc một trong những khu vực mà chúng tôi đã chỉ định là nơi cất dấu an toàn, nhưng lại cách quá xa Ix. Không biết hẳn, hay đúng hơn là tôi, làm gì ở tận cái nơi quỷ quái này nhỉ? Có lẽ Jed 2 buộc phải tới Teotihuacán vì một lý do nào đó. Hoặc hắn chủ tâm tìm cách tới đây và phải chôn những mẩu ghi chép lại đây vì sợ không trở về Ix được nữa.
Hoặc hắn biết mình không thể trở về.
Thôi, dù sao hắn cũng làm được đến đây, phải vậy không? Thế là khá lắm rồi. Có lẽ rốt cuộc tôi cũng sẽ dập tắt được cơn ác mộng này.
Chúng tôi rẽ sang hướng tây và nhắm tới trung tâm của một đỉnh núi thấp bằng phẳng trên vùng cao nguyên nằm ngay rìa bắc Coixtlahuaca. Ở đây chỉ mọc rặt có hai giống thông bụi và xương rồng ocotillo. Một nơi trú ngụ tuyệt hảo cho giống nhện đen. Bốn gã nhân viên ES lực lưỡng đến từ Mexico City, ăn vận như những gã chủ trang trại nuôi súc vật nhưng chiếc mũ cao bồi quá mới, quá đắt tiền, đứng trên một bãi cắm trại ra hiệu vẫy chúng tôi. Họ có hai con lừa thồ hàng, những cái bọc lớn, một chảo parabol thăm dò mặt đất đặt trên kiềng ba chân, một máy phát điện nhò và một máy nén đặt cạnh một cái hồ rộng gần bốn feet vuông. Chúng tôi hạ cánh, chiếc máy bay chạm vào cái bóng của nó giữa một đám mây sỏi cát bụi mù. Ana, Michael, Marena và tôi leo xuống. Ana bàn bạc với bốn gã nhân viên ES chừng một phút. Ba người còn lại nhìn xuống cái hố. Họ đã đào được năm feet bằng xẻng và búa khoan. Còn phải đào sâu thêm hai feet nữa, một cách thận trọng hơn, với những cái nạo bằng nhựa. Michael nói không việc gì phải lo lắng nhiều và cứ để họ hoàn tất việc này. Phải bốn mươi phút sau, một vật nhìn như một khối bụi bán hóa thạch lớn mới hiện ra. Họ nhấc nó lên và dùng chổi phủi sạch. Đó là một chiếc âu đất nung nông, rộng lòng, đường kính chừng hai mươi inch và cao chừng bốn inch, trên nắp có một cái núm hình con ếch. Nó rạn nứt hết cả, một vài mảnh đã rời cả ra, để lộ một bánh sáp ong cứng màu nâu bên trong. Nó lớn hơn nhiều so với kích thước cần thiết của một lá thư. Chúng tôi đặt nó vào một khoang nhựa chân không lớn ở đuôi chiếc Kiowa và cất cánh. Chúng tôi dừng chân nạp nhiên liệu ở Nochixlan – tình cờ địa điểm đó cách không bao xa. Hồ Thủy Tinh Xanh, nơi xảy ra vụ nổ năm 2010 – và quay về thành phố Oaxaca và chuyển sang một chiếc Cessna. Asley 2 (các bạn nhớ cô thư ký của Taro chứ?) đã ngồi sẵn trên đó, bưng một chiếc khay bằng giấy bìa trên bày những chiếc tách Styrofoam kiểu cũ, tỏa hơi khen khét đặc trưng của cà phê Bustelo – ái dà, có tuyệt hơn không khi được uống cốc cà phê đặc quánh của quê nhà, cà phê ra cà phê, thay vì cái thứ cà phê hữu cơ Kona vớ vẩn mà anh quen dùng ở Mỹ? Tôi uống liền hai tách. Chúng tôi rẽ sang hướng đông – đông nam, quay về Stake.
- Sao các vị cho rằng đó là chữ thập duy nhất anh ta để lại? – Asley 2 hỏi chúng tôi. – Anh ta lý ra phải cho chúng ta biết anh ta có nằm trong hầm mộ đó hay không.
- Có lẽ anh ta không về được đến Ix, - Michael đáp rồi quay sang tôi nói. – Xin lỗi.
- Không sao. – Tôi đáp.
Đúng vậy, chuyện quái quỷ gì đã xảy ra nhỉ? – tôi tự hỏi. Ngoài những lý do chính đáng khác để tò mò, tôi phân vân điều này cũng bởi vì nó xảy ra với tôi. Gần như thế.
- Ngoài ra, có vẻ như chúng ta không còn cơ hội quay lại cậy các hầm mộ nữa. Binh lính chắc đang cắm đầy ở đó.
- Phải, nhưng rồi chúng ta cũng sẽ giải quyết việc đó, - Marena nói. – Có lẽ anh ta đã chôn được mình ổn thỏa trong chiếc quan tài nhưng chữ thập không chôn thông điệp thứ hai. Hay có khi trong cái gói này đã có chỉ dẫn gì về nó. Phải vậy không? Cũng có thể anh ta không tự chôn nó mà cử người khác mang nó lên đó, vì một lý do nào đó.
- Ừ, dù gì tôi cũng sẽ lo sao cho chúng ta sớm hiểu rõ sự tình này. – Michael nói.
Và lão đã làm đúng như lời hứa. Sáu sinh viên cao học của lão đã biến một phòng dưới tầng hầm Stake thành phòng nghiên cứu khảo cổ và chỉ một tiếng sau khi về đến nơi, chúng tôi đã được nhìn thấy các hình ảnh chụp X-quang trong khi các sinh viên cứ hai người một thay nhau tách khối sáp ong đặt trog một khoang găng Lucite lớn chứa đầy khí argon. Có tất cả bảy đồ vật trong chiếc bát. Sáu trong số đó là những chiếc bình đất sét nhỏ có nặp đậy. Chỉ với tia X-quang, họ không chụp được rõ lắm thứ đựng bên trong, nhưng có thể nhìn thấy vài mẩu xương động vật nhỏ trong ba chiếc bình. Vật thứ bảy là một chiếc hộp đất sét chưa nung, to bằng một cuốn sách bìa cứng dày, bên trong có ba cuộn giấy nếp kiểu Maya, đặt trong đống muối mỏ nom bân bẩn. Michael nói họ có thể đọc được chữ viết bên trong mà không cần mở chiếc hộp, giống như đã làm với cuốn Thư tịch Nurnberg, nhưng vì chúng sẽ chẳng hư hại gì khi được đặt trong khoang găng chứa đầy khí argon nên cứ lôi chúng ra mà đọc như bình thường cho nhanh. Lão nói việc này sẽ mất khoảng tám tiếng đồng hồ.
Trừ Michael, tất cả chúng tôi lết về phòng ngủ của mình. Vì lý do nào đó mà không ai tỏ ra muốn ăn mừng vội. Tôi đã nghĩ đến chuyện gõ cửa phòng Marena nhưng lại quyết định rằng mình vẫn còn quá bối rối, hay đúng hơn là còn quá ngờ vực, cho dù có vẻ như rốt cuộc chúng tôi đã đạt được một chút cái có thể gọi là thành công. Cảnh sát quốc tế vẫn đang tiếp tục điều tra vụ tai nạn của chiếc Hippo và khó lòng mà tin được rằng họ sẽ không lần ra được chúng tôi. Và đội lính tuần tra đã tìm thấy toàn bộ thiết bị của chúng tôi ở phế tích Ix, thế nên hy vọng quay lại đó để hồi sinh cho Jed 2 xem ra khá xa vời. Và Không Đời Nào vẫn mất tích.
Trong bản tường trình, Ana Vergara đã ghi rằng cô ta nghĩ Không Đời Nào chính là kẻ đã mật báo cho quân đội Guatemala về chúng tôi. "Toán lính tuần tra đó tiến thẳng về phía chúng tôi" – cô ta viết - "không thể có chuyện họ chỉ đang tìm kiếm vu vơ. Và tất cả gián điệp nằm vùng của chúng tôi đều đáng tin cậy". Họ cũng cho chúng tôi xem hồ sơ chứng thực một khoản tiền lớn đã được chuyển vào và rút ra tài khoản của Không Đời Nào ở Nicaragoa. Nhưng, như tôi đã nói với họ, bất cứ ai cũng có thể dàn cảnh vụ việc đó. Dù họ có cho tôi xem đoạn băng ghi hình anh ta tự rút tiền thì điều đó cũng chẳng chứng minh được điều gì. Không có chuyện Không Đời Nào làm những việc như thế, tôi nói vậy đấy. Không chỉ vì anh ta không làm những chuyện như vậy, mà còn vì anh ta sẽ nhận được tiền thù lao từ chúng tôi. Thủ phạm ắt hẳn phải là một trong những kẻ được gọi là gián điệp nằm vùng đáng tin cậy của ES, kẻ nào đó trong làng. Họ đang vung quá nhiều tiền cho những kẻ gián điệp như thế, - tôi nghĩ. Càng có nhiều người biết một chuyện gì đó thì anh càng dễ bị lộ. Và cứ thêm một người mới có khả năng đó lại tăng lên gấp mười lần. Thực ra – tôi nghĩ thôi chứ không nói – có khi chính ES đã chuyển tiền vào tài khoảng của Không Đời Nào để khiến anh ta có vẻ là tên bất lương nhằm che đậy sự kém cỏi của chính họ.
Dù sao, ngay cả khi họ không dựng lên chuyện này thì tất cả lũ bọn họ cũng đều đang đổ tội cho tôi về vụ lộn xộn. Chính tôi đã khăng khăng đòi đưa theo một kẻ không chuyên nghiệp và đấy, xem chuyện gì đã xảy ra. Họ còn băn khoăn không biết ngoài việc chỉ điểm cho quân đội Guatemala, liệu anh ta có tiết lộ các thông tin bí mật về dự án Chocula hay không. Tôi nhất quyết bảo rằng tôi cần thấy những bằng chứng xác thực về việc anh ta bán đứng chúng tôi trước khi tin bất cứ điều gì. Và họ không muốn làm tôi quá khó chịu, bởi tôi vẫn còn có ích trong việc giải đoán những vấn đề liên quan đến cờ Hiến tế. Nhưng đây vẫn là một trong những lúc mà tất cả mọi người đều nhìn anh bằng cặp mắt là lạ. Ngay cả Marena cũng ngờ vực. Và tôi không thể trách cô ta.
Tôi giở m*nh tr*n trục suốt hai tiếng liền rồi từ bỏ ý định ngủ nghê, xỏ đội giày hiệu Croca được tặng, nhón bước đi qua sân tới bàn bảo vệ, mở một trong mấy chiếc máy tính xách tay được cài mật khẩu và luôn trong tình trạng không nối mạng của họ. Tôi lướt qua một bản báo cáo phân tích bằng phần mềm DHI, dài 335 trang dưới dạng PDF về việc điều tra lần theo các luồng tiền trong vụ Nỗi Kinh Hoàng ở Disney World. Nó được trình bày một cách lộn xộn và bị sửa chữa nhằng nhịt với chi chít những dòng chữ như "CHỉ trao đổi, - tôi nghĩ. Vàng chưa đúc. Mình phải kiểm tra lại một lượt tất cả các công ty khai khoáng mới được. Thứ gì đó ở châu Phi chẳng hạn. Tôi tắt máy tính – nó nhất quyết đòi kiểm tra dấu mống mắt của tôi rồi mới cho tắt – và vào xem kênh CNN.
Tin tức không được sáng sủa lắm. Con số người thất nghiệp ở Mỹ đã lên tới 25%. Chính phủ chính thức tuyên bố Chúa đang trừng phạt chúng ta vì sự đồi bại và không có đức tin. Các bang như Texas và Kentucky đã ra lệnh im lặng bắt buộc vào mỗi sáng và trưa trong lúc diễn ra các buổi cầu nguyện do tổng thống chủ trì tại sân vườn phía nam Nhà Trắng, và hôm nay, ba mươi triệu người đã tham gia qua truyền hình. Từ tuần trước, quân đội, hải quân và lính thủy đánh bộ đã được hợp nhất thành một lực lượng để chấp hành mọi mệnh lệnh từ cấp chỉ huy, không quân và NASA "cũng sẽ sớm được đưa vào hệ thống". Khoảng hai trăm ngàn thành viên của các cơ quan vũ trang đã được giải ngũ và vị trí của họ đang được giao cho các nhà thầu tư nhân đảm nhận. Moody’s (Công ty đánh giá tín nhiệm của Mỹ) đã hạ thấp đánh giá trái phiếu kho bạc Mỹ xuống còn mức A (Mức đánh giá cao nhất của Moody là Aaa). Giá vàng giao ngay tăng vọt lên năm ngàn đô la một ounce. Hôm qua, ở thành phố Chester, bang Illinois, tù nhân đã nắm quyền kiểm soát Trung tâm Menard (Nhà tù dành cho phạm nhân nam của bang Illinois), và thay vì đàm phán, đội phản ứng nhanh đã quăng lựu đạn cháy, thiêu trụi các tòa nhà và toàn bộ người trong đó. Cho đến thời điểm này, quyết định trên của cảnh sát đã nhận được 90% ý kiến ủng hộ trên web YouCount-gov. Thành phố Dearborn, bang Michigan hiện đang nằm dưới luật sharia (Luật Hồi giáo). Trên trường quốc tế, hơn hai triệu người tị nạn đã từ Bangladesh đổ về Ấn Độ. Hai người bạn lâu năm Guatemala và Belize lại đang bận rộn với nhau – chuyện này thì tôi biết rồi – bởi thời gian này, hầu như ngày nào người ta cũng nghe thấy tiếng họ nã pháo vào các vị trí nghi ngờ có quân đội của nhau dọc theo đường biên giới. Các kỹ sư sinh học của Zion-Tech, Haifa (thành phố lớn nhất miền bắc Israel) tuyên bố đã gây giống được giống bò đỏ không đốm. Và – tôi thấy tin này gần như là tin vui trong thời điểm này, nhất là với những kẻ lòng dạ sắt đá như tôi – cơn bão Twinkie đang mạnh dần lên ở Cuba.
Cố nhiên, tin vui đối với chúng tôi là với bao nhiêu là lộn xộn như thế này, vụ tai nạn của chiếc Hippo sẽ mất hút dưới tận cùng danh sách của sự quan tâm – những điều tệ hại đăm ra lại có lợi cho chúng tôi. Laurence nói các cơ quan có tên viết tắt với ba chữ cái của Mỹ - và dĩ nhiên là của cả Belize, Guatemala, Mexico và Anh – đang phải giải quyết quá nhiều sự vụ đến mức không thể dành ra quá vài người đề lo việc này. Nhất là khi họ đoán rằng đó có thể chỉ là chuyến buôn lậu m* t** của một tay tỉ phú nào đó đang vội vã rời khỏi Guatemala. Nghe thì có vẻ quái gở, nhưng chúng tôi có thể thoát khỏi vụ này với bàn tay sạch tinh. Thậm chí các công ty bảo hiểm còn phải bồi thường cho chúng tôi về chiếc Hippo cũng nên.
Trước khi trời sáng, tôi quay về phòng nghiên cứu. Marena và Taro đã ở đó. Michael thì hình như vẫn chưa rời khỏi đó. Nghĩa là lão không hề ngủ. Và, không hoàn toàn được chào đón, Laurence Boyle vừa quay về để làm kẻ gây phiền toái xoi mói từng xu đúng vào lúc công việc của chúng tôi đạt được ít thành quả rõ rệt. Bên trong cái khoang găng được chiếu sáng trắng, họ đã mở được sáu trang cuối cùng của một trong ba cuộn giấy. Tôi hơi rùng mình khi thấy những dòng chữ mã hóa còn nguyên vẹn chính là chữ viết tay của tôi. Các trang đang được chụp lại bằng vài chiếc camera gần trên nóc khoang và bức thư cuối cùng của Jed 2 – họ giải quyết theo thứ tự từ dưới lên – đã được giải mã xong. Trong lúc đó, ở đầu khoang bên kia, một trong mấy chiếc bình giống như kiểu bình đựng xác ướp đã được mở ra, những bàn tay xỏ găng đang cậy các mẫu vật ra khỏi mẫu nhựa thông xám xỉn bên trong. Một giờ nữa, chúng sẽ được chuyển tới phòng thí nghiệm Lotos ở Salt Lake để phân tích.
- Anh muốn đọc thư của mình không? – Michael hỏi.
Tôi cố nặn óc ra một câu gì đó mỉa mai để trả lời nhưng cuối cùng chỉ gật đầu. Lão đưa bức thư đã được giãi mã lên màn hình.
Tôi cảm thẩy rất kỳ cục. Tôi có thể hình dung lại giọng nói của chính mình nhưng không thể tưởng tượng được những gì mà bản sao của mình đã làm và chứng kiến. Tôi khó lòng tin được rằng tôi, hay hắn ta, đã làm được đến mức này, và tôi không thể không tự thấy hãnh diện, mặc dù chính bản thân tôi chẳng có công trạng gì trong chiến tích ấy…
[đã giải mã]
CÁC TỪ KHÓA MỚI :
JBNNUIIDSXJWNNQBEOOFLCOPRTXSVQCDFEHJRMR
Jed de Landa
Trên đường tới Đồi Lột Da
(Monte Alban, Oaxaca)
Gửi nhóm Chocula
Phế tích Ix, Alta Verapaz, Guatemala
Thứ tư, ngày 31 tháng 3 năm 664 sau Công nguyên, khoảng 11 giờ trưa.
Gửi Taro, Marena, Michael, Jed 1 và tất cả mọi người.
Bốn mươi tư người chúng tôi, những gì còn sót lại của đội quân, đã qua được vùng ngoại ô Teotihuacán và mười tám mặt trời trước, chúng tôi đã gặp người của Bị Thương 14 tại điểm hẹn trước. 14 đã mất tới gần một nửa quân số và lính trinh sát của ông ta cho biết những người còn lại của thị tộc Báo Sư Tử đã tập hợp lại dưới trướng của Cụt Tay Phải, đang tấn công và tàn sát tất cả những người thuộc các thị tộc hậu duệ Chim Ưng và Rắn Chuông còn kẹt lại trong thung lũng Teotihuacán. Và bây giờ, chúng đang đuổi theo chúng tôi. Vòng tròn của lửa và sự hủy diệt, phần lớn là tự phát, đang từ những đám đổ nát của thủ phủ này lan rộng ra khắp nơi như một hố đất sụt ngày một mở rộng. Chúng tôi đã đi qua các khu làng nơi người dân tự nhịn ăn cho đến chết bởi họ tin rằng một khi thế giới đã không tồn tại thì cũng chẳng có lý do gì để ăn.
Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều người sống. Phần đông đã trở thành vô gia cư hoặc không muốn quay về nhà nữa. Họ gia nhập đoàn chúng tôi, vì thế đoàn lữ hành ngày một đông lên.
Phần lớn những người này không quen chiến trận. Nhưng sáng nay, công nương Koh đã cử khoảng một trăm sứ giả - tôi dùng từ này để chỉ một chức danh kết hợp giữa "người đưa tin", "người tuyển mộ" và "người truyền giáo" – để nhanh chóng tập hợp các đội chiến binh từ các nhóm người hành hương của Rắn Chuông Sao đang lưu tại các khu vực ở vùng hồ chưa bị đám cháy lan đến. Họ cũng sẽ chuyển lời tới những người đứng đầu của một vài thành phố đã đồng loạt cải sang đạo Rắn Chuông rằng công nương Koh muốn họ đến diện kiến tại Akpaktapec, một thành phố theo đạo Rắn Chuông ở Oaxaca, cách địa điểm này hai ngày đường về phía tây. Chúng tôi sẽ tập hợp quanh mình càng nhiều tín đồ càng tốt để làm tấm đệm và hành quân về phía Đồi Lột Da, nơi thị tộc Mây đã hứa dành cho chúng tôi một nơi ẩn náu với tư cách là đồng minh chống lại nhà Báo Sư Tử. Từ đó, nếu có thể, chúng tôi sẽ đi theo một tuyến đường trên bộ, cách xa con đường mòn quen thuộc, đi về phía đông nam về thành Ix.
Tôi muốn nói rằng cơ hội về được tới Ix của tôi là rất ít. Vì thế, tôi quyết định để hình chữ thập đầu tiên tại đây, hơi sớm một chút, trước khi những điều tồi tệ xảy ra. Tôi vẫn chưa nắm được hết những gì cần biết. Nhưng tôi hy vọng (hiển nhiên) rằng thông tin trong những ghi chép này đủ để các vị tái hiện được môn cờ Hiến tế và các thành phần tạo thành m* t** của trò chơi sẽ tồn tại đủ nguyên vẹn qua nhiều năm để giúp các vị tái hiện được các thành phần hóa học hay thậm chí chỉ là các tế bào vô tính của chúng. Xin nói một câu cũ rích: có lẽ tất cả những việc này cũng bõ công, bất kể sự tình nhìn từ đây có như thế nào. Dù sao cũng xin được thứ lỗi về không khí ảm đạm này… sẽ tiếp tục gửi thêm nếu có thể…
Thân mến,
JDL 2
Xem các kiện hàng gửi kèm.
Tái bút: Jed, cậu có thể cúng cho thần Maximón mấy điếu Pyramide giúp tớ được không? Cảm ơn. Jed 2.
66
- Đây là lúc đốt ruộng, là lúc dọn quang, - tôi lầm rầm bằng tiếng Ch’olan. Tôi lấy một nhúm thuốc lá, nhai nát và xát một ít vào vết thâm ở mé trong đùi.
- Con xin mượn hơi thở của ngày hôm nay, Ox la hun Ok, Ox la uaxac K’ayab, Chó 13, Rùa cạn 18, mặt trời thứ mười của tun thứ ba, unial mười chín,k’atun mười chín của b’ak’tun mười hai, giữa trưa ngày mùng 8 tháng tư theo năm Thiên chúa 2012 của chúng con, kỷ niệm ngày sinh thứ sáu mươi mốt của mẹ con và cách hai trăm năm mươi bảy ngày trước mặt trời cuối cùng của b’ak’tun cuối cùng. Con cầu xin vị thánh của ngày hôm nay, Santa Constantina, con cầu xin thánh Simón, người bạn của chúng con dưới tên Maximón, hãy bảo vệ khoảnh đất này của trái đất.
Tôi đặt mình ngồi vào trung tâm của các thế giới đang chuyển động xoay tròn.
- Quinchapo wa’k’ani, pley saki piley, - tôi khấn, - đây là lúc vãi hạt, trồng cây, con xin rải rác các sọ đỏ và sọ trắng.
Tôi kích vào dòng chữ RẢI HẠT. Ba trăm sáu mươi hạt lách tách hiện lên trên màn hình OLED 2,8 triệu pixel chiếm trọn bức tường trong căn phòng tối, biệt lập và trang bị hiện đại, nằm sâu bốn mươi feet dưới sân thi đấu của Hyperbowl ở Stake. LEON lưỡng lự, trầm ngâm suy nghĩ. Tôi duỗi dài người, nằm ngả xuống chiếc ghế dựa lò xo mát-xa mớ toanh, tiện lợi nhưng xấu xí và đắt tiền. Cơn ngứa ran lên dưới cái máy đo huyết áp quấn bên cổ tay trái. Tôi gãi. Nào, chúng ta lại bắt đầu, - tôi nghĩ. Đáng ra tôi phải biết trước rằng mọi sự rốt cuộc cũng sẽ quay lại với cái máy tính. Bởi suy cho cùng, tôi vẫn chỉ là một con khỉ máy móc. Tất cả chúng tôi đều thế. Suốt ngày vất vả ṃ mẫn với những cái mỏ dữ liệu. Mệt mỏi. Đáng ra tôi phải là người được nhìn thấy nó chứ, ý tôi là thế giới cổ của chúng tôi ấy. Đúng thế, đáng ra tôi phải được làm Jed 2 mới phải. Cái thằng khốn ấy thật may mắn. Hắn được nhìn thấy hết. Những món đồ quý báu và các kim tự tháp. Những con gà tây Ocellata và những con mèo rừng màu ngọc lam. Những hẻm núi cắm đầy lông chim…
LEON kêu bíp bíp.
Nó vừa di chuyển một sọ đỏ lên một tun về phía bắc, đến ngày 28 tháng 4 và dán nhãn vị trí đó là k’ak’ilix – tức là một ngày mà mọi chuyện đều có thể xảy ra. Giống như các trò chơi trên trang web Mouse Club. ĐẾN LƯỢT ANH – dòng chữ hiện lên trên cửa sổ.
Hừmm.
Suốt ba tuần nay, chúng tôi đã cài đặt lại LEON để nó có thể hoạt động như một công cụ tìm kiếm. Tức làm ngoài cửa sổ đánh cờ Hiến tế, anh có thể mở thêm các cửa sổ hiển thị các dữ liệu mà công cụ tự học của nó đang định hướng hoạt động tìm kiếm của nó. Các sinh viên của Taro cũng đã cải tiến giao diện sao cho khi đấu với LEON, chúng tôi có cảm giác giống như chơi với con người hơn. Tuy nhiên, điều khả dĩ nhất LEON có thể làm được chỉ là đi những nước đúng. Nghĩa là nó không thể đi những nước có suy tính sâu xa, thậm chí không thể đi được những nước hay nhất. Chỉ là những nước đúng thôi, những nước mà các bạn có thể gọi là "theo sách vở", nếu như có sách vở cho môn này. Và vấn đề là, trong một ván chơi ở trình độ cao ở bất cứ môn nào - cờ vua, cờ vây hay thậm chí là Cootie (Cootie: Một trò chơi ghép hình của trẻ em.) – thì nước đi theo sách vở chẳng mấy khi khác nước đi ngu nhiều lắm. Thậm chí đôi khi nó còn là nước đi dẫn đến thua cuộc.
Taro đã thất vọng ra mặt trước sự tình này: không có thuật toán, không có những công thức bí mật, không có thứ gì để ông ta có thể đem dạy cho máy tính và để nó giải quyết mọi vấn đề của con người. Taro muốn một thứ gì đó có tính quyết định hơn. LEON là con đẻ của ông ta. Ông ta muốn cái gói kia phải chứa đựng những giải pháp cho các công thức của ông ta. Ông ta mong muốn đến mức gần như chờ đợi điều đó xảy ra. Nhưng thay vào đó, tất cả những gì chúng tôi nhận được là những mảnh và chiến thuật chơi, cùng năm chiếc bình đựng m* t**, xác cây và con vật. Những thứ đó giúp ích cho LEON không hơn việc đổ cà phê lên ổ cứng của nó. Tôi ra sức giải thích với ông ta rằng chơi cờ Hiến tế không phải một mục tiêu đơn giản nhất mà ông ta có thể nhắm tới, cũng như không có bí quyết chơi đàn xen-lô, nhưng ông ta chẳng có tâm trạng nào mà nghư. Ông ta là một nhà khoa học đơn thuần. Nếu một vấn đề không có cách giải quyết có thể ghi được lên bảng đen thì nó không thuộc phạm vi công việc của ông ta.
Và quả thực, sao chúng tôi lại nghĩ có thể chơi được cờ Hiến tế trên một cái máy tính nhỉ? Trò chơi này được nghĩ ra để làm cặp mắt của bộ óc chứ không phải cặp mắt của một cỗ máy có tính năng mới nào đó chưa được phát minh. Để khiến một chiếc máy tính chơi được trò chơi như con người, anh phải thiết kế sao cho nó sánh ngang một bộ óc. Và ngay cả LEON cũng còn xa mới với được tầm đó. Bất kể một chiếc máy tính lưu trữ được nhiều kiến thức hơn con người đến mức nào, bất kể nó xử lý được thông tin nhanh đến mức nào thì nó cũng chỉ là những con số "0" và "1".
Hiển nhiên, ngay sau khi chúng tôi đọc hết thông tin về món m* t** và trước khi họ kịp bắt tay vào phân tích chúng, tôi đã định thử nếm ngay từ bình. Và hiển nhiên họ không cho tôi làm vậy.
Tôi không nghĩ họ lại câu nệ quá như thế. Tôi khăng khăng nói rằng chúng tôi nên chứng thực lời của Jed 2, tính toán lượng thuốc anh ta đã dùng và thử một liều tương tự. Nhưng các ông bà tử tế ở phòng thí nghiệm Lotos – trung tâm nghiên cứu thuốc điều trị bện tâm thần của tập đoàn nghiên cứu Warren – muốn kiểm tra chúng trước. Họ cho biết đã đi đến kết luận rằng có hai thành phần hoạt tính trong m* t** của trò chơi, thứ nhất là một chấttryptamine tương tự như chất gây ảo giác bufotenin, và thứ hai là một hợp chất benzamide tương tự như chất ampakine nhân tạo, như CX717 chẳng hạn. Kết hợp với nhau, chúng k*ch th*ch mạnh mẽ hoạt động của các tế bào thần kinh tại một vài điểm nhất định trên vỏ não. Đáng lưu ý hơn, các thử nghiệm ban đầu trên sên biển cho thấy "sự gia tăng chưa từng thấy của các chất tiếp xúc", nghĩa là số lượng các kết nối thần kinh mới cũng như chủng loại và độ dài của chúng tăng lên con số khổng lồ trong suốt thời gian bộ não chịu ảnh hưởng của chất m* t**. Dần dần, theo thời gian, chất thuốc đó sẽ thay đổi hình dạng của bộ não một cách thực sự.
Đến ngày thứ bảy, họ đã tổng hợp đủ thuốc để thử nghiệm trên động vật. Những quan sát ban đầu cho thấy dường như chất m* t** phát huy tác dụng qua nhiều giai đoạn. Trong giai đoạn đầu, nó giúp tăng trí nhớ về địa điểm và cảm giác về phương hướng. Người ta cho lũ sên biển lên bàn xoay thợ gốm trong một căn phòng tối và quay tròn, sau một phút, chúng đã ngừng chạy lòng vòng và bơi thẳng tới góc phía đông, nơi để thức ăn trong cái bể cũ. Chúng tôi đựng. Lũ khỉ còn làm được điều phi thường hơn. Con khỉ bình thường nào cũng có thể đi trên dây nhưng những con được dùng m* t** còn đi được trên sợi dây đu đưa trong bóng tối và sau đó, theo mệnh lệnh, nhảy sang sợi dây mà chúng đã đi trên trước đó cả tiếng đồng hồ. Lisuarte nói tác dụng tăng cường khả năng giữ thăng bằng và sức mạnh cơ bắp của chất thuốc này khiến bà ta nhớ đến propranolol, tức là chất giảm hoạt động của tim mà rất nhiều nhạc công của dòng nhạc cổ điển thường dùng trước buổi trình diễn. Trong suốt giai đoạn này, chỉ số IQ tăng từ từ lên trên ngưỡng lệch chuẩn của cá thể đó. Điều này xảy ra ngay cả với những con sên, loài vật tuy cũng có chỉ số thông minh nhưng không con nào lên được tầm Goethe (Goethe: Theo một nghiên cứu về IQ của một số nhân vật nổi tiếng thi hào Goethe đạt chỉ số cao nhất, ở đây ý nói không có con sên nào có chỉ số IQ thực sự cao). Lũ khỉ thì học được hàng tá các ký hiệu bàn tay mới. Chúng chơi được cả trò ghép hình có thể làm khó cả một đứa trẻ năm tuổi. Chúng trình diễn cả một màn tẩu thoát bằng cách cử một con giật chuông báo cháy vào ngày tất cả được đưa đi tắm. Thật là một cảnh tượng như trong phim Bí mật của NIMH.
Nhưng khi giai đoạn k*ch th*ch trí tuệ lên tới đỉnh điểm thì chất m* t** lại tác dụng lên các vùng khác kỳ quặc hơn, các con vật thể hiện những kỹ năng không có trong bài kiểm tra IQ. Chẳng hạn như lũ khỉ trở nên quá nhạy cảm với màu sắc. Thông thường, con người chỉ có thể nhớ và phân biệt vài ngàn màu. Những người làm việc trong ngành in vải, ví dụ vậy, có thể nhớ khoảng mười nghìn. Loài khỉ thì chỉ xử lý được khoảng vào trăm. Nhưng sau ba tiếng đồng hồ chịu tác dụng của thuốc, con số đó được nhân lên gấp bốn. Ngoài ra, lũ sên trở nên mẫn cảm hơn rất nhiều với các dao động dưới tốc độ âm thanh và ngay cả với các sóng điện trong môi trường nước quanh chúng hay chỉ chạy qua dưới sàn nơi đặt bể của chúng; những con thuộc loài có vú cũng vậy, tuy ở mức độ nhẹ hơn nhưng khá rõ rệt. Mỗi lần va quệt vào nhau, một tia tĩnh điện cũng có thể làm cho chúng rú lên. Khi tăng liều lượng cũng là lúc các nhân viên phòng thí nghiệm nhận thấy những tác động tiêu cực – nghĩa là ngoài các tác dụng phụ thông thường như chóng mặt, vã mồ hôi và hắt hơi, "ở các mẫu thí nghiệm khỉ Macaca mulatta, hiện tượng gặm móng và nhai lông đã lên tới mức thường xuyên" – báo cáo viết. Nói cách khác, chúng đã bắt đầu gặm móng chân tay, nhai và nuốt lông. Và "ở các mẫu thí nghiệm Aplysia california, liều lượng cao liên tục đã dẫn tới các trường hợp tự ăn thịt nghiêm trọng". Nghĩa là những con sên biển tự ăn thịt chúng cho đến chết.
Bác sĩ Lisuarte và người của phòng thí nghiệm Lotos rơi vào thế khó xử. Đương nhiên, họ chẳng lạ gì cái thế giới đầy lợi lộc của các chất m* t** k*ch th*ch năng lực. Thực tế, chúng tôi đã cho rằng mình vừa vô tình thực hiện các nghiên cứu về dược liệu cổ truyền. Có lẽ một phiên bản có tác dụng nhẹ hơn của món thuốc này sẽ có tương lai sáng sủa trong ngành y dược hiện đại. Nhưng cũng như nhiều công ty có máu mặt khác, tập đoàn Warren cam kết mạnh mẽ với hoạt động chống m* t** đến mức họ gần như thực sự tin vào chuyện đó. Kể cả những tín điều của đạo Mormon cũng không ảnh hưởng nhiều. Về cơ bản, họ cứng nhắc như một con rô-bốt về chuyện này. Wainer nhai oxycontil (Oxycontin: Một loại thuốc chứa m* t** để giảm đau)như ăn kẹo mỗi khi không nốc rượu rum ừng ực. Tony Sie vẫn dùng steroid và androstenedione dù đã bỏ chơi bóng nghiệp dư bốn năm trước còn các thực tập sinh của phòng thí ngiệm thì hút c*n s* và dự tiệc th**c l*c sáu đêm một tuần. Ngay cả Taro cũng dùng Modafinil (Modafinil: Loại thuốc k*ch th*ch thần kinh và tăng sự tỉnh táo). Marena đã quay lại với thói quen mỗi ngày một bao. Đám công nhân xây dựng nghiện methamphetamine nặng (Methamphetamine: Một loại m* t**). Con cái của họ hít toluene và ít nhất một nửa trong số các nhân viên theo đạo Mormon nốc vốt-ka và nước tăng lực khi họ nghĩ không ai để ý. Và chắc các bạn nghĩ ở đây người ta có thái độ nghiêm khắc với lối sống tiệc tùng. Nhưng không.
Marena họi điện cho tôi từ Colorado bằng điện thoại di động được cài mật mã mà công ty không biết, bảo tôi rằng cô ta cũng muốn việc nghiên cứu này được mở rộng hơn một chút, nhưng tôi không nên cố tác động và đẩy mình vào nguy cơ bị đá khỏi dự án.
- Boyla và đám người này chẳng qua chỉ là một lũ kế toán, - cô ta nói, - Nhìn chung, họ ham học hỏi chẳng hơn gì một vại kim chi ôi.
- Ừ, - tôi đáp.
- Nhưng khi Lindsay đọc các bản báo cáo, ông ta sẽ vặn vẹo và họ sẽ đổi ý thôi.
Cô ta cũng nói rằng cô ta rất lo lắng về sức khỏe của tôi nếu tôi cứ thử dùng thứ m* t** mà không có ai giám sát. Tôi trả lời rằng cô ta thật đáng mến nhưng cô ta đang chuốc vào người một công việc nặng nhọc không bao giờ kết thúc đấy.
- Anh cứ ở yên đấy là được, - cô ta nói.
Rốt cuộc, đến ngày 10 tháng 3, đã có kết quả thử nghiệm độc tính trên những con lợn lai Yucatán. Chúng khôn ra rất nhiều nhờ món thuốc nhưng cho đến lúc này vẫn chưa có biểu hiện nghiêm trọng gì về sức khỏe. "Về mặt sinh hóa, chúng có hơn năm mươi phần trăm giống người" – đó là lời của Lisuarte. Nghe có vẻ hợp lý vì về mặt cư xử, con người cũng có hơn năm mươi phần trăm giống lợn. Theo suy đoán của tôi, đương nhiên phòng thí nghiệm Lotos đã tiến hành thử nghiệm trên người, có thể là ở Ấn Độ, nhưng họ không muốn bất cứ ai bên ngoài biết được chuyện này. Nhất là một kẻ vô ý thức như tôi. Dù sao, họ cũng nói sẽ bật đèn xanh cho chúng tôi tiếp tục dự án của mình sau một tuần nữa.
Nhưng lời hứa không được thực hiện. Các tờ lịch cứ rơi dần, tiến gần đến ngày Chúa tể 4 mà vẫn chưa ai tiến được thêm bước nào về phía têndoomster. Và bên ngoài lãnh địa nhỏ của chúng tôi, thế giới đang tiếp tục suy đồi.
Cuối cùng, đến ngày 18, người của Lotos cũng gửi đến các thành phần của chất m* t**, mỗi thứ gần nửa lít.
- Tôi đã nói với anh là họ sẽ làm mà, - Lisuarte nói, - họ cũng tận tâm như chúng ta thôi.
Và bà ta có lý. Họ là một công ty, họ không muốn mạo hiểm, họ ghét người da đen, họ ủng hộ đảng Cộng hòa, luôn kè kè khẩu súng, đếm từng xu nhưng tiêu tiền to thì dại và nói không với bất cứ thứ gì, nhưng rốt cuộc, họ vẫn là con người. Họ có gia đình, có các khoản đầu tư, có tham vọng, có như cầu chăm sóc sức khỏe… và như chúng tôi, họ hiểu vấn đề.
Giấy tờ được soạn thảo và ký kết. Các bác sĩ từ trung tâm Salt Lake đến khám cho tôi và (theo tôi đoán) lấp l**m hoặc chịu mọi chỉ trích nếu mọi sự đổ bể. Người ta đặt đủ loại giấy tờ trước mặt tôi và tôi ký. Có lẽ tôi không nên làm thế nhưng lúc ấy chẳng có thời gian mà cân nhắc kỹ lưỡng. Ngày 19, Lisuarte bật đèn xanh cho tôi. Tôi có thể thử ba mươi miligam hỗn hợp m* t** nếu được lấy được số thuốc đó - ờ thực ra thì Jed 2 mới là người phải trải qua những chuyện đó nhưng cũng vậy thôi – thế mà bây giờ tôi thậm chí không được dùng nó. Lisuarte phỏng đoán rằng thành phần có nồng độ alkaloid cao đã gây phản ứng với các loại thuốc khác mà tôi đang dùng. Cụ thể là nó ngăn chặn việc hấp thụ lại axit glutamic, dẫn tới lượng nitrogen tăng quá cao, k*ch th*ch độc tố, hình thành ý nghĩ tự hủy hoại bản thân và hàng đống tác dụng không mong muốn khác nữa. Trong một tuần tiếp theo, bà ta thay thế các đơn thuốc điều chỉnh hành vi quen thuộc đáng tin cậy của tôi bằng một mớ hổ lốn các loại thuốc mới hơn và khó chịu hơn. Khi nhìn qua danh sách liều lượng, nó quá phức tạp so với khả năng hiểu của tôi, vì vậy, tôi gửi nó tới chỗ ông bác sĩ vẫn điều trị cho tôi ở Miami. Ông ta nói đơn thuốc này giống như "dùng sức gỗ phá thành mà đóng một cái đinh hai xu", nhưng tôi muốn tỏ ra là người xuề xòa nên cứ chấp nhận dùng. Thật đáng kinh ngạc, những thứ thuốc mới lại đâm ra có tác dụng. Chỉ vài ngày sau, chúng tôi đã cho kết quả mong muốn: Dường như chẳng còn lại mấy phần của thằng Jed trước kia. Thay vì một kẻ luôn lo âu, thích sống ẩn dật và thù địch với thiên hạ, bây giờ còn có một người khác, lạc quan một cách thận trọng và khá ôn tồn tên là Jed. Thực tế, con người mới của tôi gần như điềm tĩnh. Ví dụ - chỉ là ví dụ thôi – Marena đã về Mỹ từ ngày mùng 10 để thăm Max và cô ta nói sẽ quay về sau một tuần, nhưng bây giờ, đã gần một tháng rồi mà vẫn chẳng thấy cô ta đâu. Cô ta giải thích rằng việc đi lại hiện thời không an toàn lắm. Và đúng là mọi sự đang rối tung lên một cách đáng ngại. Thiên hạ đang bỏ chạy khỏi một vài thành phố và đổ dồn về các thành phố khác. Phải chờ mười tiếng đồng hồ mới qua được các trạm kiểm soát hải quan. Các hãng hàng không thì tích trữ nhiên liệu máy bay. Hầu hết các sân bay lớn đã biến một phần ba số ga-ra đậu máy bay thành trại cách ly bắt buộc. Tuy nhiên, tôi vẫn thấy nó có phần lý do lý trấu. Nếu Marena để đám lưu manh của Warren ra tay, cô ta đã về đến đây rồi. Thực sự, điều này có vẻ không giống với tính cách của cô ta: vắng mặt trong lúc tất cả những người còn lại đang đâm đầu vào dự án của mình. Có lẽ cô ta biết điều gì đó mà tôi không biết. Có lẽ cô ta không chịu đựng được việc phải trông thấy tôi nữa. hay có khi cô ta chỉ không muốn làm gián đoạn việc học hành của Max. Chúng tôi gần như đã chuyển đến sống cùng nhau, nếu các bạn coi việc ngủ chung trong phòng ngủ tập thể của một căn nhà tiền chế là sống cùng nhau, và tôi tưởng chúng tôi đã khá thân thiết, nhưng khi cô ta lên máy bay, thì tôi không còn chắc điều đó nữa. Cứ như trước kia, hẳn tôi đã bắt đầu gầm gào, đập phá, đáp máy bay đến tận nơi và hổn hển bám theo đuôi cô ta như một con chó nhút nhát. Nhưng bây giờ, khi nghĩ về cô ta, tôi chỉ hơi buồn bực một giây rồi dứt khoát quay lại với công việc, như những người bình thường khác, ngoan ngoãn chấp nhận khẩu phần thất vọng mà anh ta phải nhận mỗi ngày. Còn nữa. Không Đời Nào vẫn chưa thấy đâu. Ban đầu, tôi phát hoảng lên vì lo sợ cho cậu ta và còn cố quay lại tìm, nhưng bây giờ tôi chờ đợi một cách khá bình tĩnh để xem chuyện gì sẽ xảy ra. Có lẽ cậu ta đã bị hút vào một cái hố đen như lúc trước.
Ngoài ra, tôi cũng không chắc chắn về tư cách trước pháp luật của mình, ít nhất sáu cơ quan khác nhau vẫn đang điều tra về Vụ Tai Nạn Của Chiếc Hippo – hừm, một cái tựa đề hay ho cho cuốn tiểu thuyết mới xuất bản sau khi tác giả qua đời của Robert Ludium đây – và rốt cuộc họ cũng lần ra được mối liên hệ với ES, điều đó có nghĩa là tất cả số còn lại cuối cùng cũng có thể bị liên đới. Và tệ hại hơn nữa, họ đã cho Sic và một vài thực tập sinh khác thử món m* t** và nó có tác dụng khá tốt với họ. Sic ðang nghiên cứu các ghi chép của Jed 2 và ðýợc chõi trên phiên bản mới của cờ Hiến tế; thế rồi, với "chớp máu", hắn đã vượt tôi một chút. Cứ như lúc trước, chắc tôi đã phát rồ lên vì ghen tị, mặc xác doomster với chả doomster. Nhưng bây giờ, tôi chỉ cặm cụi làm việc mình.
Cuộc đọ sức lần hai với món thuốc diễn ra tốt đẹp hơn. Tôi chơi được hai ván với một liều thuốc và chơi khá tốt. Đến liều thứ năm, tôi chơi với bốn viên đã ngon lành như với hai viên. Tôi đề nghị tăng liều lượng. Lisuarte nói không. Chín ngày trước, tôi đã hoàn thành một ván chơi với năm viên đá và bây giờ tôi đang tiến bộ với sáu viên. Đến hôm qua, tôi thậm chí đã thoáng nhìn thấy thế giới hỗn độn của bảy viên. Nhưng như tôi đã nói, chơi với bảy viên không chỉ khó gấp đôi sáu viên, cũng không phải chỉ khó gấp bảy hay bốn mươi chín lần, mà là 7!, tức là 5,040 lần. Vì vậy, rất thực tế, tôi không thể tưởng tượng được với tốc độ như thế này mà tôi có thể lên được đến trình chơi với tám viên chứ đừng nói là chín, suốt đời cũng chẳng được chứ đừng nói đến chuyện vài tháng. Đôi khi, trong lúc đọc các ghi chép của Jed 2 về những gì mà cái bà công nương Koh đó làm được, không chỉ chơi với chín viên đá mà còn dùng động vật sống làm quân cờ, rồi lại làm cái khỉ gì đó với cái mạng nhện, tôi gần như nghĩ rằng hắn bốc phét. Chỉ có điều, hắn làm thế để làm gì? Hay đúng hơn, tôi làm thế để làm gì?
Ngày 22, Laurence nói ông ta – tức là Lindsay - muốn tôi tìm hiểu về vụ Disney World. Tôi đáp rằng tôi đã có kế hoạch tiến thẳng tới chỗ tên doomstervà cầu cứu đến Taro và Maurena. Chúng tôi quyết định rằng tôi sẽ dành ra hai ngày để tìm tên giáo sư X. Nếu chúng tôi giao nộp được hắn – họ nói – thì chúng tôi sẽ ghi điểm với DHS. Sau đó, mọi điều chúng tôi nói về ngày Chúa tể 4 sẽ được họ coi là chuyện nghiêm túc, bất kể nó có kỳ quái đến đâu. Nghe có vẻ hợp lý, mặc dù tôi chắc chắn còn có điều gì đó sau chuyện này. Tuy nhiên, tôi đã xem hết những ghi chép của Jed 2 về giáo sư X qua ván cờ của công nương Koh, và đúng là chúng cũng gợi cho tôi một vài liên tưởng. Nhưng khi đọc lại một lần nữa, tôi thấy hơi bực mình với hắn. Thứ nhất, chỉ vỏn vẹn có bốn mươi ngàn từ, không nhiều nhặn gì đối với việc ghi chép tỉ mỉ từng chi tiết nhỏ bởi biết đâu sau này những chi tiết đó lại trở nên có giá trị. Thứ hai là văn vẻ quá. Cái bài văn xuôi này hoa mỹ một cách ngớ ngẩn khiến tôi phát khó chịu. Mặc dù tôi công nhận rằng hắn/ hoặc tôi đã phải làm việc trong những điều kiện khó khăn, nhưng… hừ, người ta vẫn thường bực bội với bản thân mình, ngay cả khi cái bản thân đó đã bị tách ra làm đôi. Gì thì gì, tôi vẫn đọc đi đọc lại chi tiết về ván cờ liên quan đến vụ kinh hoàng ở Disney World, về việc hắn – hay chúng ta cứ gọi là tôi đi – đã có linh tính mạnh mẽ rằng giáo sư X là kẻ nào đó mà tôi biết rất rõ tên nhưng chưa từng gặp mặt, kẻ nào đó vẫn còn sống, kẻ nào đó đã từng đi khắp nơi, có thể là một người mà chúng tôi đã bỏ qua, hay có thể là người mà tôi không tính đến vì quá hiển nhiên. Và Jed 2 nói rằng hắn là người "đã một lần nửa lộ diện ngoài ánh sáng nhưng giờ ở trong bóng tối".
Hừ.
Ngày hôm đó, tôi đến chỗ làm hơi muộn và đến trưa mới bắt đầu rải nắm hạt đầu tiên. Tôi thử kết hợp ván cờ với các công cụ tìm kiếm của LEON. Các hợp đồng bí mật – tôi nhẩm trong đầu. Các ngân hàng ở Cayman. Các công thức sống xa xỉ hơn mức lương của mình. Máy bay, du thuyền, xe hơi xịn xuất hiện tại các sân sau nơi chúng đáng ra không việc gì phải tới. Thắng cờ bạc. Các bà vợ bất thình lình được thừa hưởng số tiền gấp hàng trăm lần con số người ta nghĩ họ có thể nhận. Đồ cổ, tác phẩm nghệ thuật, các món trang sức cổ với những viên đá quý mới. Gì cũng được. Cố lên. Hãy lần theo các đồng đô la…
Mẹ kiếp. Vào ngõ cụt rồi.
Tôi đi lại một lần nữa, sàng lọc một khối dữ liệu khổng lồ qua một khối dữ liệu khổng lồ khác rồi đuổi theo dấu vết của các đồng đô la. Cố lên. Tiếp tục đi. Phân vân. Phân vân. Đi tiếp. Chắc chắn chỉ có một kẻ chủ mưu, - tôi nghĩ. Toàn bộ sự việc đó kín kẽ đến mức không thể do nhiều kẻ cùng nghĩ ra được. Và xét theo khía cạnh kẻ nào được lợi thì… hừ, khá dễ đoán. Tất cả nhà thầu quân sự trên thế giới đều được lợi. Cứ cho thủ phạm là một trong số đó. Vậy đó là kẻ nào? Cổ phần của công ty nào tăng giá nhiều nhất? Hoặc nhiều thứ hai? Cố nghĩ đi nào. Giả sử đó là công ty A. Nhưng công ty B lại sở hữu phần lớn cổ phần của công ty A. Mà có thể một công ty C nào đó mới là kẻ thực sự hưởng lợi vì họ sắp sửa được công ty B mua lại toàn bộ. Hay là công ty D, kẻ đã thỏa thuận mua lại tất cả các công ty trên. Đường này. Đường kia. Đường này. Đường kia. Những kẻ lắm tiền. Hàng chuỗi nguyên nhân. Hàng chuỗi hậu quả. Những con búp bê Nga lồng trong những con búp bê Nga. Những nhà máy búp bê Nga chất đầy búp bê Thái. Rối tinh hết cả lên. Mỗi mắt xích lại kéo theo một chuỗi liên kết vô giá trị…
Hừmm.
Chắc chắn phải có tiền dính vào vụ này, và nó đang xoay tít quanh thứ gì đó, một hình dáng lờ mờ… một cái đầu, có lẽ thế… và tôi gần như thấy nó qua cảm giác, nghĩa là không thực sự có hình ảnh nào hiện ra, nhưng tôi có cảm giác về sự căm ghét, không hẳn vì chính cái hình dáng đó, mà…
Phải rồi. Sự căm ghét từ phía những người khác.
Hắn là kẻ bị người đời ruồng bỏ.
Nào. Nghĩ tiếp đi.
Kẻ nào đó giàu có, đầy quyền lực và chẳng được ai ưa. Kẻ nào đó bị chính người của mình ghê tởm. Kẻ nào đó từng bị tẩn tả tơi trên sân chơi. Kẻ nào đó có khuôn mặt méo mó. Kẻ nào đó xác thực mối nghi ngờ tồi tệ nhất của tôi. Kẻ nào đó vẫn được coi là con quỷ thực sự trong mắt hầu hết mọi người. Một lãnh tụ Hồi giáo lưu vong chăng? Cái gã Myanmar này phải không nhỉ? Không, không phải. Mẹ kiếp, chẳng lẽ mới trung niên mà đầu óc mình đã ngu đi rồi.
Có lẽ tôi không thấy gì là do tôi kỳ vọng quá nhiều. Có lẽ tôi đã quá xem nhẹ nó, như kiểu anh lục lọi khắp nơi để tìm cái chìa khóa xe sau khi đã kiểm tra hết các túi quần túi áo, và sau khi đã lục tung nhà cửa lên, anh lại phát hiện ra nó nằm trong túi bởi trong mười giây tìm kiếm đầu tiên anh đã nhầm nó là chìa khóa nhà chứ không phải chìa khóa cửa, và thế là đủ để… hừm, các bạn hiểu ý tôi rồi đấy. Được rồi. Tiếp tục đi. LEON chuyển quân. Tôi chuyển quân. Một chuỗi sự kiện. Hàng chuỗi, hàng chuỗi dữ kiện. LEON chuyển quân. Tôi chuyển quân. LEON chuyển…
Oa. Đây rồi.
Mười tám tỉ euro. Và, đúng thế, chỉ một lần giao dịch. Các mảnh ghép miễn cưỡng vào vị trí như những cái lẫy của một ổ khóa cũ han rỉ. Cánh cửa kêu lên rin rít, mở ra…
Không phải một người. Một công ty.
Tóm được mày rồi nhé.
67
Tôi có phần hy vọng rằng DHS và tất cả các cơ quan điều tra khác đã được hối lộ đủ tươm tất và rằng sẽ không có điều gì xảy ra sau khi chúng tôi chỉ ra thủ phạm, ngoài họ, đang cố sát chúng tôi. Nhưng xem ra chính phủ vẫn chưa hoàn toàn hợp nhất thành một khối bởi, thật đáng kinh ngạc, sáng ngày 28, FBI đã tiến hành khám xét đồng thời các văn phòng của Halliburton ở Houston và Baskerfield, tòa cao ốc KBR ở hạt Harris, mười hai văn phòng và một trăm mười máy chủ thuộc sở hữu của Dyn-Corp và các công ty vỏ do tập đoàn Carlisle điều hành. 243 người bị bắt. Theo lời Laurence, người đã hóng tin từ Lindsay và ông này chắc chắn đã nghe được chuyện từ một nhân vật nào đó trong cuộc hoặc từ Chúa, trong bốn cuộc khám xét, người ta đã tìm thấy các tài liệu liên quan đến plutonium dưới dạng phun xịt, ngoài ra, trong một máy chủ còn lưu một bản ghi nhớ trong đó nói rằng việc tập trung hóa các lực lượng quân sự là "ưu tiên hàng đầu của chúng ta". Tôi đoán rằng các mắt xích của việc hối lộ sẽ khá tệ hại khi người ta tập hợp đủ các chi tiết. Nói ngắn gọn, những kẻ này đã sử dụng hệ thống hawala, nghĩa là tất cả những người tham gia đều là thành viên của một phe cánh Hồi giáo nào đó mà mọi người đều tin tưởng nhau và không ai viết ra bất kỳ điều gì. Không có khoản tiền mặt nào được gửi đến bất cứ đâu. Nhiều năm trước – cụ thể là năm 2006 – vài chủ khách sạn ở Dubai đã thuê mấy nhà thầu đóng trụ sở ở Moscow xây một số đường cao tốc và đường băng riêng với cái giá hơi cao một chút. Các nhà thầu này dùng tiền để trả nợ cho một công ty khác – có lẽ là một trong các công ty đã sáp nhập với Lukoil và được thừa hưởng lượng polonium 210 không có trong sổ sách từ công ty sản xuất ban đầu. Sau đó, người của tập đoàn Carlisle lại bán cho chuỗi khách sạn một vài công trình xây dựng ở Jordan và Lebanon với giá hơi rẻ một chút. Và hoạt động này cứ diễn ra hàng tá các thương vụ giao dịch qua máy tính. Và hẳn các bạn nghĩ với cách thức như vậy, họ đã giấu nhẹm được mọi chuyện dưới tấm thảm Ba Tư. Thế nhưng, mười tám tỉ dù gì vẫn là con số lớn, ngay cả vào thời buổi này, và phần lớn trong số đó đang nằm tại một vài tài khoản ở đâu đó. Với luật ngân hàng mới và các công cụ tìm kiếm được cải tiến, ngày càng dễ tìm ra các khoản tiền gửi khớp với con số ước đoán của khoản tiền mất tích. Một khi LEON và các "đồng nghiệp" ở DHS biết phải tìm kiếm thứ gì, chúng chỉ việc sàng lọc các số liệu cho đến khi tìm ra hai mô hình – có thể hình dung giống như hai dấu vân tay – đủ trùng khớp để thuyết phục bồi thẩm đoàn.
Tuy thế, ho vẫn chưa xin được lệnh bắt Cheney – hắn đang chỉ bị coi là "đối tượng tình nghi" – và, như thế có thể đoán trước, hắn đã được bảo mật tin tức nội bộ và không ai còn tìm ra hắn được nữa.
Không có khả năng tìm được thật – tôi nghĩ. Con mèo ấy có nhiều chỗ ẩn náu không được tiết lộ hơn cả Chương trình Tên lửa phòng thủ Atlas. Cho dù chúng tôi dành toàn bộ thời gian để tìm hắn thì chúng tôi cũng chỉ việc chuyển hắn từ nơi này đến nơi khác và chúng tôi sẽ luôn đến chậm một bước. Ừ thôi, tôi đã làm xong việc của mình. Nó không hoàn toàn như ý, nhưng chẳng có chuyện gì xảy ra như ý cả. Dù sao, rất có thể sau này mọi chuyện sẽ tiếp tục sáng tỏ. Sẽ có thêm nhiều người bị bắt và biết đâu kẻ nào đó sẽ bán rẻ hắn. Cho đến lúc này, moi tin tức trên phương tiện truyền thông về vụ bắt giữ vẫn chỉ là tin nghe hơi nồi chõ, nhưng nghe đâu thông tin thật sẽ được tiết lộ trong tuần này.
Hoặc chính mình sẽ chỉ điểm, - tôi nghĩ. Ngay khi mình được rảnh với những vấn đề cấp thiết hơn.
Tình hình thế giới thì mỗi ngày một tệ hại hơn. Bangladesh gần như không còn điện, thức ăn, nước uống và luật pháp. Lưỡi Gươm của Thánh Allah(Lưỡi Gươm của Thánh Allah : Danh hiệu vinh dự dành cho các chiến binh hồi giáo) đang tấn công các căn cứ quân sự của Mỹ ở Pakistan.. Cục Quản lý Tình huống Khẩn cấp Liên bang cho biết họ đã ước tính sai con số nạn nhân mắc bệnh giai đoạn cuối ở Florida và rằng trong vài năm tới, số nạn nhân tử vong dự tính sẽ lên tới sáu mươi ngàn, đưa tổng số thiệt hại về người của vụ Kinh Hoàng ở Disney World lên hơn một trăm ngàn. Có thể là 124.030 - tôi nghĩ - cộng trừ một tí. Không còn đủ phương tiện để chăm sóc toàn bộ số nạn nhân này ở Mỹ. Vì vậy, các ca có tiến triển tốt hơn được đưa ra nước ngoài cho dù bang Floria đã bắt đầu xây dựng một bệnh viện lớn và hiện đại nhất thế giới. Tính tới thời điểm này, đã có mười bốn vụ báo động tương tự như ở Orlando tại các thành phố lớn, nhưng tất cả chỉ là hoảng báo, chẳng có polonium nào hết nhưng việc di tản tốn mất hàng tỉ. Hai ngày trước, tám mươi người đã thiệt mạng trong một vụ đánh bom tự sát ở DeKalb, bang Illinois. Như rất nhiều vụ đánh bom kiểu mới khác, vụ ở DeKalb được chia thành hai giai đoạn, nghĩa là trước tiên, một quả bom lớn phá sập một căn nhà tập thể và thủ phạm làm thoái hóa hoạt động của mọi xã hội đến mức chúng sẽ vô cùng dễ bị tổn thương trước những căng thẳng tiếp theo". Hay theo cách nói của Ashley 2, hệ miễn dịch của thế giới đang bị tổn thương nghiêm trọng và một cơn cảm lạnh cũng có thể dẫn đến tử vong.
Tôi cứ nói mãi rằng chúng tôi cần tăng liều lượng. Lisuarte thì cứ chần chừ. Khoảng ngày mùng 4 tháng 4, tôi bắt đầu có cảm giác rằng hình như chúng tôi chậm chân. Chỉ cảm giác thôi, nhưng tôi vẫn không thích cái ngày mà LEON các triệu chứng được bộc phát đúng vào ngày Chúa tể 4 và chuẩn bị gieo rắc vào ngày hai tám. Hay cũng có thể là một quả bom thông thường hay một phản ứng dây chuyền nào đó được châm ngòi vào đúng ngày đó. Dù gì đi nữa thì tôi cũng cảm thấy giờ 0 của chúng tôi đã bắt đầu từ ngay lúc này, thậm chí có khi là từ hôm qua rồi. Đã đến lúc phải hành động quyết liệt.
Thật dễ dàng khi muốn ăn trộm thứ gì đó của một người vốn tin tưởng anh. Lừa bác sĩ Lisuarte thì khó. Nhưng Taro cũng được quyền tiếp cận tủ thuốc và nhân viên phòng thí nghiệm của ông ta chẳng phải đội thủy thủ kỉ luật nhất thế giới. Và lúc này, tôi và Asley 2 đang… Ờ… chúng tôi đang làm tí việc nho nhỏ, loại việc xảy ra khi Marena vắng mặt, chồng của Asley 2 bị kẹt ở Bắc Kinh và mọi chuyện đang ập đến với chúng tôi như trong phim Bình minh của cái chết. Nó đại loại là một tý giải trí tiện thể. A2 không phải kiểu người thu hút được sự chú ý của người khác, nhưng thực sự, nếu anh cởi bỏ cặp kính và chiếc áo choàng trắng cho cô ta rồi đưa vào một căn phòng tranh tối tranh sáng thì cô ta có thể thành bản sao ục ịch hơn một tí của Chương Tử Di. Cô ta đang thử học chơi cờ Hiến tế - gần như là người chơi tồi nhất ở đây – và tôi đang dạy cô ta vài bài đặc biệt và được trả công. Cũng không có gì to tát lắm, chỉ là cô ta để dành cho tôi một phần nhỏ trong phần m* t** của mình. Đến hôm nay, tôi đã gom được khoảng 480 miligam – thành phần gây ảo giác về không gian lại ở dạng lỏng nên được đựng trong các lọ dung dịch 40 miligam và tôi đã tích được 300, gấp mười lần liều lượng chuẩn của tôi, vào một cái ống trước dùng để chứa helium. Không có máy quay trong phòng biệt lập – chí ít là tôi không thấy cái nào và dù gì ở đây người ta cũng không quá cứng nhắc. Tôi bóc lớp băng dính dán cái ống nhỏ bằng thép dưới nách, luồn nó qua chun quần xuống mé trong đùi phải và vặn nút. Một tiếng động nhỏ phát ra như một tiếng vặn từ từ nắp một chai Shasta lạnh, một cảm giác như có miếng nước đá đang hình thành trong tĩnh mạch chủ dưới da rồi tan mất.
Nếu tôi tính toán đúng thì liều thuốc này, sau hai mươi phút nữa sẽ đưa tôi đến ngưỡng khoảng bằng một phần năm lượng thuốc mà chúng tôi tính rằng Koh đã dùng trong ván cờ cuối cùng với Jed 2. Cố nhiên, bà ta đã có cả đời để tăng khả năng chịu thuốc. Người của phòng thí nghiệm Lotos nói lượng thuốc ngần này có thể gây ra chết hoặc làm nổ tung hồi hải mã trong não tôi. Nhưng họ là một đám người chuyên hù dọa người khác. Mà đằng nào, nếu tôi bị tai biến, người của Lisuarte sẽ lao vào, cho tôi uống thuốc và chăm sóc cho tôi trở lại bình thường. Thời buổi này người ta có thể làm bất cứ thứ gì. Phải vậy không? Dù sao, chúng ta cũng có nhiều chuyện quan trọng hõn phải lýu tâm. Tập trung vào ði.
Tôi di chuyển quân đầu tiên trong số chín quân đến ngày 28 tháng 4 và thay thế hạt của LEON. Nhận lấy này, đồ óc thủy tinh. Ô cửa sổ của nó hiện lên dòng chữ ĐANG SUY NGHĨ. Tôi đứng ở vị trí mới và tìm quanh. Nói là "tìm" thì không đúng lắm vì lúc này, khi cảm thấy chớp máu sôi lên trong động mạch, tôi đang thực sự nhìn thấy, nếu có thể gọi như vậy, với những cái rùng mình và giật khe khẽ, tưởng như mọi nguyên tử trong cơ thể tôi đều có một hạt tương ứng trên bàn cờ. Có lẽ nó giống như cách những người mù với máy quay gắn vào trong não và điện cực gắn trong yết hầu có thể nhìn bằng lưỡi…
BÍP.
LEON di chuyển hai bước về phía trung tâm bàn cờ.
Hừm.
Tôi cũng di chuyển sọ của mình lên phía trước. Tôi thấy như đang leo cầu thang, thấy không gian vừa giãn nở ra lại thu hẹp lại. Rất khó giải thích, nhưng nó giống như cảm giác của một người đã sống cả đời ở một thành phố nhỏ, biết mọi đường lối đi lại nhưng chưa từng nhìn thấy chúng trên bản đồ, rồi một hôm, anh ta leo lên một tháp truyền hình cao vừa được dựng lên ở trung tâm thành phố, và thế là, lần đầu tiên anh ta được nhìn xuống thành phố từ trên cao. Sau vài giây, anh ta hiểu ra nhiều điều mà trước đây anh thậm chí không biết có chúng ở trên đời để mà hiểu. Anh ta sẽ thấy những nơi lúc trước tưởng như xa cách nhau nay xích lại gần, những con phố mà anh ta cho là nằm vuông góc nhau thực ra lại cắt xiên lộn xộn, các khu công viên mà anh ta cho là vuông vắn lại có hình tứ giác, không đều, những tòa nhà quen thuộc tưởng là to bỗng trở lên nhỏ hơn cả những tòa nhà ít quen thuộc hơn mà trước đây tưởng là nhỏ; trình tự nhận biết trở nên hoàn toàn khác lạ, hoàn toàn mới mẻ, thứ mà anh không thể có được nếu chỉ sống ở một nơi, dù là hàng trăm kiếp.
Tuy nhiên, vấn đề nằm ở chỗ cảm giác này có vẻ như hay ho, thậm chí vui vẻ. Nhưng thực tế thì không, nó chỉ đáng sợ thôi. Nó đặc biệt đáng sợ vào lúc này, dĩ nhiên. Nhưng lúc nào nó cung đáng sợ. Sự sợ hãi của anh tăng lên cùng khả năng nhận biết. Và nó phải như vậy.
Khi tôi đọc xong ghi chép về các con vật của công nương Koh, dường như nó không khiến tôi kinh ngạc như Jed 2. Thực ra, tôi luôn dùng chính mình làm con khỉ. Nghĩa là, để thực sự điều khiển được quân cờ, tức là các sọ, anh phải có sự sợ hãi trong mình. Ngay cả khi chơi cho một người mà anh chẳng mấy quan tâm, anh vẫn phải cảm nhận được sự sợ hãi. Anh cần phải cảnh giác nhìn quanh như con thú đang bị săn đuổi, phải thấy cái bóng nào cũng giống con dã thú săn mồi. Và khi khả năng nhận biết của anh càng mở rộng, thay vì mạnh mẽ hơn, anh thấy sợ hãi hơn. Nó trở thành nỗi sợ không chỉ cho bản thân mà cho các con vật cùng cảnh bị săn đuổi, cho bầy đàn mà lúc này anh đang thấy tất cả vây quanh mình, đông không kể xiết. Thay vì tìm đường thoát, anh lại tính xem có bao nhiêu kẻ cùng cảnh ngộ quanh mình và nơi ẩn náu an toàn còn cách bao xa. Anh bắt đầu nhận thấy ý thức của mình dễ lung lay đến mức nào, và càng lên các bậc cao hơn, anh càng cảm thấy nó mong manh. Anh bắt đầu thấy rõ hơn hiện tại, quá khứ, thậm chí lờ mờ một chút tương lai, rồi thêm nhiều khả năng sẽ có thể xảy ra, thêm nhiều khả năng đã có thể xảy ra – ví dụ như một nghìn triệu khả năng anh không được sinh ra trên đời chẳng hạn – và tiếp đến là những hiện tại không thật, những tương lai không tồn tại và những thế giới không thực, các vũ trụ nơi ánh sáng đi với tốc độ chậm và cục bộ, lực hấp dẫn thì lớn, tầm ảnh hưởng xa, nơi hai cộng một bằng một, hay thậm chí hai cộng hai bằng một chùm nho, ví dụ thế. Và nó không chỉ khiến người ta tò mò. Nó khiến người ta phát khiếp.
Nhưng nếu anh vượt qua được cảm giác hoa mày chóng mặt trước tất cả những điều đó, anh sẽ bắt đầu thấy một vài hình thù. Tôi thu nhỏ của sổ bàn cờ trên màn hình tường và liếc sang hàng loạt thông tin chạy dọc màn hình. Lúc này, LEON đang lọc các thông tin liên quan đến những người có cùng tên và kiểm tra xem chúng có được đặt cho đúng người hay không. Và khi nói "thông tin", ý tôi là tất cả các thông tin: nghề nghiệp, phả hệ, các mối quen biết đời thực và qua mạng, hồ sơ tín dụng, tình hình mua sắm, học bạ, ngày sinh, ảnh, các sở thích chắc chắn và suy ra, các trang web đã xem, số cặp gen đơn bội ước tính, tham khảo chéo, y bạ, cả một thác sự kiện, ngôn ngữ, của cả con người lẫn máy tính. Tôi đang nhìn thấy thứ gần nhất những gì mà Chúa nhìn thấy, thậm chí gần hơn cả những gì Google nhìn thấy bởi mọi thứ mà Google tìm kiếm đều phụ thuộc vào những gì mà những kẻ không được thông minh lắm tìm kiếm. Việc tìm kiếm thông tin có định hướng thật sự phải có tính chọn lọc hơn rất nhiều. Anh cần phải tập trung. Và ý tôi không phải sự tập trung vào từng chi tiết nhỏ như tìm kiếm từ khóa. Nó giống việc xem tranh ảo hơn, khi anh tập trung nhìn sâu xuống một vài feetdưới bề mặt tờ giấy và nếu không bị phân tán bởi những đường ngoằn nghoèo vô nghĩa, anh sẽ nhìn thấy hình vẽ mà bức tranh thể hiện – hay phải gọi chính xác hơn là không gian mà bức tranh thể hiện bởi thực ra anh chỉ nhìn thấy không gian, nghĩa là nếu chỉ dùng một mắt, anh sẽ chẳng thấy gì hết – nếu cứ tập trung vào hình đó, nó sẽ dần hình thành hình khối rõ rệt, lớn hơn, sâu hơn, nhẵn hơn, và đến một lúc nào đó, anh sẽ nhìn rõ nó là thứ gì. Khi Bụi Của Người Chèo Thuyền Già bắt đầu ngấm, tôi cảm thấy như con mắt thứ hai đang từ mở ra; tôi dần nhìn thấy đường viền của một hình thù nào đó ở hướng đông, các cơ mống mắt của tôi chậm rãi hướng ra xa, vượt qua một biển mênh mông những cái tên, những ngày tháng, những con số và hàng ti tỉ những thứ lỉnh kỉnh khác hợp thành một thế giới khổng lồ này, và tôi gần như nhận ra đó là thứ gì, một thứ gì đó được tạo bởi toàn bộ những thứ trên, nhưng lại hoàn toàn không phải là chúng, thứ gì đó gớm guốc đang lờ mờ hiện ra ở phía trước.
68
LEON chuyển quân. Tôi chuyển quân. Nó chuyển quân. Tôi chuyển quân, về phía hình thù nọ. Nó có vẻ giống một kim tự tháp đổ nát hoặc một miệng núi lửa tắt, nhưng bị xói mòn ghê gớm, đầy mảnh vụn và khe nứt. Ngay sát đỉnh có thứ gì đó nom là lạ, một chỗ lồi lên như một cái mụn cóc khổng lồ. LEON chuyển quân.
Hừm.
Tôi chuyển quân, cần mẫn và khó nhọc đi xuyên qua cơn bão tuyết của dữ liệu.Quá nhiều tiếng ồn và quá ít tín hiệu – tôi nghĩ. Cứ ý như màn hình nhiễu vậy. LEON chuyển quân. Hừm. Không phải cái này. Không phải cái kia. Mỗi lúc một khó lần đường tiến lên phía trước. Mỗi lúc một ít những cái mô đất rắn giữa đầm lầy.
LEON chuyển quân. Những nước đi giả thiết mờ ảo hiện ra rồi lại biến trước mặt tôi. Tôi chuyển quân. Lúc này, tôi thấy mình như đang leo lên các bậc thang dốc, xói lở và mấp mô không đều. Nhiều hình thù lớn vây quanh tôi nhưng không nhìn thấy, hay đúng hơn không hình dung ra chúng là những thứ gì, vì trong trò chơi này, người ta không thực sự nhìn thấy thứ gì cả, người ta chỉ có cảm giác về nó. Có lẽ cảm giác này giống như của anh chàng leo núi mù (tức Erik Weihenmayer, người mù duy nhất cho đến nay chinh phục được đỉnh Everest), người liên tục đạt những kỷ lục mới ở Tây Tạng. Vì không thể hình dung ngay được mọi thứ xung quanh, anh ta phải lần lượt tiếp nhận từng mẩu thông tin, lần tìm đường qua các hẻm núi, giữa các đỉnh núi không hình thù và khe hở rộng ngoác chẳng biết là của cái gì nữa, từ đó, tập hợp lại trong óc hình ảnh con đường một cách cần cù và một chiều, như xâu chuỗi hạt. Những bậc thang dẫn tới ngày Chúa tể 4. LEON chuyển quân. Tôi chuyển quân. Leo lên nữa, lên nữa. Một âm thanh, hay đúng hơn là cảm giác về ký ức về một âm thanh, vọng đến từ đâu đó gần trục giữa bàn cờ, một tiếng rì rầm khe khẽ và đứt quãng, gợi tôi nhớ đến một âm thanh từng nghe cách đây rất lâu, một âm thanh gì đó… hừm. Ký ức đó đã chập chờn hiện ra nhưng tôi không thể nhớ hẳn ra được. Đừng để ý chuyện ấy nữa. Tập trung vào. Lúc này, tôi bắt đầu có cảm giác về một cái hố gần đỉnh núi, thứ mà trong tiếng Ch’olan chúng tôi gọi là k’otb’aj – hang mặt trời.LEON chuyển quân, cố đẩy tôi xuống chân dốc. Tôi đặt thêm một quân cờ nữa xuống bàn. LEON quay lại. Hừm. Nó chuyển quân, tôi chuyển quân, nó chuyển quân… xong. Tôi lại tiếp tục lên dốc.
LEON chuyển quân. Tôi chuyển quân. Lên cao nữa. Lên cao nữa. Hình như có những viên đá màu đỏ gỉ sắt giống đá bọt Badland vỡ lạo xạo dưới chân tôi. Lên cao nữa. Tôi có cảm giác đã lên tới độ cao quá ngọn cây. LEON chuyển quân. Tôi chuyển quân. Lên cao nữa. Độ cao này thì đến kền đền cũng không lên. Tôi đang đứng trên sườn tây ngọn núi, nơi vẫn còn giữ được chút hơi nóng của mặt trời già cỗi. Đây là một mặt trời khác, không phải mặt trời mọc hàng ngày, mà là mặt trời của b’ak’tun, mặt trời 394 năm. Nó sẽ không lên tới thiên đỉnh trước ngày Chúa tể 4. Và vì chúng tôi đang ở nửa kia của thế giới – nửa phản xạ, có thể gọi thế - nên mặt trời này mọc ở đằng tây.
Lên cao nữa. Cao nữa. LEON chuyển quân. Tôi chuyển quân.
Ahhhh.
Ngừng một lát.
Dường như tôi đang đứng trên một bậc chuyển tiếp giữa hai đoạn cầu thang, hoặc một bình nguyên, hoặc một tablero nếu coi ngọn núi này là tàn tích của một kim tự tháp kiểu Teotihucán. Phía trước, cách không xa là một lối của rộng nằm trên một thềm đá phẳng, một hình ô-van nham nhở, không cân xứng, với một lối dốc xuống dẫn sâu vào trong núi, ngay phía sau lối cửa là talud – dốc núi tiếp theo, tiếp tục chạy lên theo một đường thoai thỏai… và tiếp nữa, ở rìa của tablero tiếp theo, hình như tôi thoáng thấy một tảng đá khổng lồ nhô ra, màu da cam xỉn. Tôi di chuyển quân cờ lên phía trước. LEON chuyển quân. Tôi chuyển quân. Đây rồi.
Âm thanh nghe rõ dần, hay tôi nên nói là cảm giác về âm thanh ngày một mạnh mẽ. Nó giống tiếng gào the thé, tiếng kêu be be sâu trong cổ họng và rõ ràng là vọng lên từ con đường ngầm chạy vào trong núi. Và qua độ cong của tiếng vang, tôi có phần nào khẳng định rằng hang động đó còn lớn hơn chính bản thân trái núi, và rằng đủ rộng đến vậy, nó vẫn chật ních các sinh vật. Chúng giống dơi, nhưng không phải là dơi. Có lẽ chúng treo mình thành từng bầy như dơi, hay chí ít những con cùng bầy tụ tập gần nhau, và chúng đông như dơi trong hang động lớn, thực ra còn hơn thế, thậm chí là vô số nghìn tỉ con. Và nghe ra thì không phải dơi. Chúng to lớn hơn. Vì lý do nào đó tôi cảm giác rằng chúng trụi lông. Chúng là thứ gì không biết? Tiếng kêu gợi tôi nhớ đến thứ gì đó, thứ gì đó từ thời thơ ấu, nhưng không liên quan đến Guatemala, thứ gì đó… ồ, phải rồi. Nhớ ra rồi.
Đó là Eumetopias jubatus (Loài sư tử biển sống ở bắc Thái Bình Dương, còn gọi là sư tử biển Stelller). Năm thứ ba sau khi chuyển đến ở cùng nhà Ødegãrd, họ có đưa tôi theo trong một chuyến du lịch cùng các con chiên trong giáo sư đến San Francisco và Seattle; trên đường quay về, xe búyt ghé lại Hang Sư Tử Biển, một điểm tham quan tư nhân nằm ven đường cái gần một thành phố tên là Florence trên bờ biển thuộc địa phận bang Oregon. Vào mùa xuân, ở đây có khoảng ba trăm con sư tử biển Steller tụ tập và kết đôi trên các vách đá. Tôi đi cáp treo từ trên vách núi xuống, đi qua con đường ăn sâu vào núi đá vôi, dẫn ra một bao lơn đục vào đá khoảng ba tầng nhà, bên trên là trần hang cao bằng mười tầng, tôi đứng, cố hiểu xem chuyện gì đang xảy ra với những cái đống nần nẫn toàn mỡ và xương kia. Các con cái kêu rít lên khi các con đực nặng hàng ngàn pound cuỡi lên người chúng. Những con đực đầu đàn và con đực chưa có đôi liên tục gầm rào với nhau hàng tiếng đồng hồ. Nhữnt tiếng rống dội đi dội lại trên mặt đá ướt. Thời buổi này, khi nói "tiếng động lớn và đáng sợ", anh thường nghĩ đến tiếng động do con người gây ra, tiếng búa khoan san phẳng một đỉnh núi, tiếng những chiếc phi cơ khổng lồ làm nóng động cơ, tiếng nổ, tiếng pháo, vân vân. Nhưng ngay cả khi tiếng động trong cái hang đó tự nhiên một trăm phần trăm – thực ra nó không hề thay đổi, vẫn thế hàng triệu năm nay, thực ra nó không khác lắm tiếng của bầy khủng long lưng gai hay khủng long sừng kiếm, ví dụ thế - nhưng nó vẫn đáng sợ không kém bất kỳ âm thanh nào anh được nghe sau này, thứ âm thanh mà không ai có thể chịu đựng được và hiển nhiên không thể quên được. Tôi nhích lên từng inch một. Trong tiếng ồn có điều gì đó khiến tôi cảm giác các sinh vật kia đang phấn khích, đang xòe rộng cánh, sẵn sàng lao ra khi mặt trời này bị chôn vùi vào ngày Chúa tể 4. Chúng sẽ lũ lượt ào ra thành một dòng gần như bất tận, qua nhiều tun và k’atun, và b’ak’tun, chúng sẽ tràn ra khắp trái đất, lớn lên và sinh sôi. Nếu các bạn chưa từng nhìn thấy dơi trong hang động thì tôi có tả các bạn cũng chẳng hiểu, mà nếu các bạn thấy rồi thì chẳng cần tôi giải thích nữa. Nhưng điều đáng sợ nhất nằm ở chỗ chúng dường như đông vô kể. Tưởng như ngay cả trong lòng đấy cũng chỉ toàn dơi là dơi.
Tôi dò dẫm lần đường quanh cửa hàng. Bây giờ, tôi có thể chắc chắn những tiếng kêu gào và rú rít ấy quá đa dạng và lặp lại quá nhiều để có thể coi là kêu bừa linh tinh, tôi dừng lại ở ô cờ này một lát, cố nghe xem chúng đang nói gì, ừ, đúng, đó là một thứ ngôn ngữ nào đó – tôi nghĩ. Nhưng là thứ ngôn ngữ tôi chưa từng nghe, thậm chí tôi cá rằng đó không phải là tiếng người; thực tế, một vài âm tiết gợi tôi nhớ đến tiếng rủa mà lòai khỉ rú thường dùng khi… hừm. Giá tôi có thể nghe rõ thêm một chút, giá tôi có thể đứng lại đây lâu hơn một chút, tôi nghĩ mình đã đóan được ra… nhưng LEON lại chuyển quân và nó không ngừng suy nghĩ trong lúc đồng hồ của tôi chạy; mặt trời đang nhích dần về phía ngày Chúa tể 4 và MÌNH PHẢI ĐI TIẾP – tôi nghĩ. Tôi liền đẩy sọ thứ tám của mình tiến thêm hai ô, cố không tỏ ra bị đẩy vào thế phòng thủ. Đừng để LEON lấy lại thế chủ động, - tôi tự nhủ. Lúc này tôi đang đứng ở một bên cửa hang, tại một vị trí mà tôi có thể ngẩng đầu nhìn lên tảng đá phía trên. Nhìn từ đây, không thể tin rằng nó được chống đỡ bởi thứ gì đó. Nếu nó bị trượt khỏi chỗ đang nằm và lăn xuống, nó sẽ đè bẹp tôi như con bọ chét dưới gót giày sắt. Nhưng nghiêm trọng hơn, nó sẽ bít kín cửa hang và những sinh vật kia sẽ không bao giờ ra được. LEON đi lùi một ô. Tôi tiến một ô, đến vị trí mà tôi cảm giác như chạm được vào mặt dưới tảng đá.
Oa.
Nó nhúc nhích. Khiếp quá. Tôi giật nẩy mình, thu người lại như quả bóng trong ghế, như thể tảng đá đang lao sầm xuống người tôi, nhưng một lát sau, rõ là tôi vẫn còn sống, tôi lại chạm vào nó lần nữa. Nó vẫn ở đó, cho dù "đó" là chỗ nào đi nữa. Tảng đá khổng lồ vẫn đứng thăng bằng ở tâm của trọng lực, nó chỉ hơi lắc lư chậm rãi trong gió quanh cái bản lề bé tí xíu. Nó là một tảng đá bập bềnh, giống như ngôi đền trên tảng đá vàng ở Kyaiktiyo, Myanmar, mỗi ngày dường như lại trượt một tẹo khỏi đỉnh. Quả thực, người ta khó có thể tin rằng ngôi đền đó vẫn chưa rơi hẳn xuống. Nó nằm trên ấy chí ít là hai ngàn năm rồi, mà đấy chỉ là khỏang thời gian mà lịch sử ghi chép lại được thôi. Tôi cảm giác rằng tảng đá mới chỉ hơi mấy thăng bằng một chút thôi, rằng nó hơi ngả sang hướng tây, rằng nó muốn rơi xuống miệng hang và bít chặt nó mãi mãi. Khi dò dẫm đến gần hơn, hình như tôi sờ thấy một hòn cuội đá chặn vào giữa tảng đá và vách núi. Và rồi hình như tôi cảm thấy có một sợi dây hoặc sợi thừng buộc quanh viên đá và kéo căng ra, căng cứng như dây C8 của cây đàn piano, chạy vào khoảng không trống rỗng bên tay trái tôi. Tôi liền hiểu ra: toàn bộ những thứ này là một cái bẫy, một cái bẫy tai ác giống loại bẫy mà thổ dân Paiute trước kia dùng để đè chết chuột vàng và chó sa mạc. Và tôi hiểu ra rằng có kẻ nào đó đang đứng từ rất xa, giữ đầu dây bên kia, đang chuẩn bị tư thế sẵn sàng giật để kéo bật hòn cuội ra, đẩy tảng đá lao xuống hang. Và đây cách duy nhất để ngăn điều đó xảy ra, để những thứ bên trong – dù có là thứ gì đi chăng nữa – được ra khỏi hang đúng như dự tính là tìm cho được cái thằng khốn giữ dây – tức tên doomster – và chặn không cho hắn giật.
Tôi ngả người trên ghế và giật một túm trong mớ tóc, nhờ giời phù hộ, đang mọc lại. Chỉ hơi có cảm giác. Tôi sờ lên mũi nhưng chẳng biết đã chạm vào nó hay chưa nếu không lé mắt nhìn. Tê hết cả người rồi, - tôi nghĩ. Chết tiệt, mình kiệt sức rồi. Tôi ngồi thẳng dậy và cảm giác như có thể với được sợi dây. Nó quá mảnh để trông thấy, hay đúng hơn là hình dung thấy, nhưng vẫn có một vạch xam xám cho thấy nó chạy về hướng bắc – tây bắc, đến ô phần tư màu đen trên bàn cờ, sát với ô màu trắng. Tôi gãi đầu, lùi lại một tí và gần nhu trông thấy sợi dây căng ngang qua đầu và mất hút trong màn hơi mù mịt trên mặt nước Thái Bình Dương. Alaska chăng? – tôi phân vân. Nhìn từ đây thì không nói chắc được. Tôi cảm nhận nó một lần nữa. Không có cách nào nối nó vào ròng rọc hay lần dọc theo nó được, không chỉ vì đây chỉ là tượng tưởng – mặc dù lúc này với tôi nó hoàn toàn y như thật – mà vì trò chơi không cho phép ta làm vậy. Nếu làm vậy sẽ giống như cho quân xe trong môn cờ vua nhảy theo đường chéo. Tôi phải chạy bộ trên đất liền theo nó. Quá khứ. Hiện tại. Tôi lao xuống các bậc thang phía bắc và rẽ sang hướng tây bắc, chạy ngang qua vùng đồng bằng. LEON bám theo tôi. Tôi nhảy về phía trước. Nó nhảy theo. Đôi lúc tôi tưởng như mình cảm nhận được sợi dây ở trên cao, điều đó có nghĩa là cho đến lúc này linh cảm cuối cùng của tôi vẫn đúng, và rằng thằng cha mà chúng tôi đang đeo đuổi – nhân đây, xin kể với bạn đọc rằng chúng tôi đã khẳng định hắn là đàn ông, vì đàn bà không thích tội ác diệt chủng có liên quan tới vùng tây bắc Thái Bình Dương (Khu vực nằm phía tây bắc lục địa Bắc Mỹ, chỉ các vùng đất liền chứ không phải đại dương.) Nhưng điều đó cũng không giúp thu hẹp phạm vi tìm kiếm xuống mức chấp nhận được, dĩ nhiên. Nó vẫn rộng chẳng kém gì khái niệm "ẩm thực châu á". Các công cụ tìm kiếm lại thu nhập được thêm vài nghìn tỉ byte. Chết tiệt, mình cần một thuật toán tinh vi hơn để giải quyết cái đống này. Nhiều khả năng phỏng đoán hơn. Các đường cong khớp nhau nhiều hơn. Một chức năng nên quỷ quái nào đó kiểu Kolmogorov (AndreyNikolaevich Kolmogorov, nhà toán học người Nga.) Tuy nhiên, hắn chắc chắn phải là một kẻ trong số đó. Thời buổi này, khó còn có người nào không để lại vết tích trên mạng. Để hoàn toàn không có thông tin về bản thân lưu trên thế giới internet, anh phải là một đứa trẻ mới sinh ở một bộ lạc săn bắn hái lượm nào đó tận miền núi New Guinea. Mà như thế thì đằng nào anh cũng chẳng trở thành doomster đựơc. Thằng cha của chúng tôi chắc chắn phải có ít nhiều kỹ năng công nghệ. Gần như không có khả năng hắn không có mặt trong danh sách một trường trung học hạng trung bình nào trong bốn mươi năm trở lại đây. Ngay cả khi học tại gia, hắn vẫn phải đăng ký với một cơ quan giáo dục cấp tỉnh hoặc cấp bang nào đó. Vậy là đã thu hẹp được phạm vi đối tượng xuống còn khỏang một tỉ gì đó trong số 6,8 tỉ người trên thế giới. Cộng thêm việc khoanh vùng trong khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương, con số giảm xuống còn khoảng ba mươi triệu. Khá ngon rồi.
Tôi tiến thêm ba bước về phía tây, tiến sâu hơn vào tương lai, dến tháng 11. Các dữ liệu xoay tít mù quanh tôi, nào tên, địa chỉ, mã số an ninh, hồ sơ nghĩa vụ quân sự, nghề nghiệp, các khoảng đầu tư, tên miền, mã bưu điện, hồ sơ tiền sự, hồ sơ tiền sự vị thành niên có thể đã bị xóa, danh sách nhân viên các công ty tư nhân, danh sách công chức, các phường hội, liên hiệp, hiệp hội ngành nghề, câu lạc bộ xã hội, hội kín, danh sách con chiên theo đạo, đăng ký mua tạp chí dài hạn, thông báo bằng thư điện tử của Google, đăng ký phương tiện giao thông, hồ sơ cước điện thọai, thuốc mua theo đơn, thậm chỉ cả danh sách các đội paintbal (Một trò chơi tập trận trong đó người chơi bắn vào đối thủ những "viên đạn" mang sơn màu), cả một đống tham khảo chéo rối tinh đến mức không thể rối hơn được nữa, hệt như một cái đầu tóc dài bện xoắn xuýt lại với nhau. Tôi chuyển quân. LEON sàng lọc lại thông tin, đánh giá và loại tất, chỉ để lại khoảng 0,00001 phần trăm rồi chuyển quân.
Chưa thấy gì. Tốt thôi. Tôi tiếp tục đi đến tháng 12. Lại một đống thông tin nữa trút xuống. Tôi ngồi chờ. Mạng hôm nay chậm. Một loại vi rút mới nào đó đã làm sập các máy chủ, không chỉ trong vùng mà cả hàng loạt trạm trên cùng đường dây T3. Thiên hạ đồn rằng chuyện này chỉ có chính phủ Mỹ mới làm được. Hoặc là họ - tôi nghĩ – hoặc là một thằng nhóc mười hai tuổi đủ thông minh với một cái bàn phím và một giấc mơ. LEON xử lý toàn bộ số dữ liệu đó, đánh giá từng mẩu thông tin dựa trên khả năng liên đới với tên doomster giả định. Nó chuyển quân. Tôi chuyển quân. Thêm 3 x 1012 mẩu thông tin nữa. LEON cẫn mẫn sàng lọc, không hề ca thán. Lần này, nó đối chiếu với các giáo phái tin vào thời đại hoàng kim và các tín ngưỡng tin vào ngày tận thế đã được ghi nhận. Thể loại này thì đông vô cùng – kết cục của thế giới luôn là đề tại được ưa chuộng – và Taro đã khăng khăng đòi chúng tôi xây dựng một hệ thống để cứ vài nước đi lại kiểm tra đối chiếu một lần. Song tôi vẫn đoán rằng nghi phạm của chúng tôi là một cá nhân độc lập, hoặc cùng lắm chỉ đặt một chân vào các giáo phái thôi. Hắn có thể là một tên Hồi giáo thuộc nhóm thiểu số hoặc một cựu tín đồ của giáo phái Nhân Chứng Jehovah, hay thậm chí là thành viên của giáo phái Đền Mặt Trời hay gì đó, nhưng dù có thể chăng nữa, tôi vẫn cá một ăn năm rằng hắn không phải là thành viên tích cực gì cho lắm. Hắn là một kẻ cô độc. Và cũng không phải thằng đần kiểu Oswald (Lee Harvey Oswald, kẻ ám sát tổng thống Mỹ John F.Kenedy, ban đầu người ta cho rằng hắn thực hiện một mình nhưng nhiều năm sau ban điều tra kết luận vụ ám sát có thể là kết quả của một âm mưu.)Hắn là kẻ cô độc thực sự.
LEON chuyển quân. Khỉ thật. Không thấy gì.
Hừm. Chậm lại nào. Hít thở đi.
Thu hẹp dữ liệu lại. Có lẽ hắn đang khoe khoang. Dù chỉ một tẹo thôi. Tôi lùi lại một chút, về nơi mà chúng tôi vẫn gọi là Không gian Bugmouth. Đó là một dải thiên hà của các dịch vụ internet, mạng liên kết xã hội và mọi cộng đồng mạng khác, thêm hơn một nghìn tỉ thư điện tử lưu trữ, tin nhắn dạng văn bản, các cuộc điện thoại lưu trên hệ thống máy tính và đủ thứ linh tinh khác. Một con quái vật khổng lồ: 2 x 1012 mẩu dữ liệu đến một nghìn giây này. Nhận lấy này, bé LEON.
Nó nhận. Nó tham khảo chéo mọi thứ mà chúng tôi đã làm đến lúc này đống dữ liệu đó: Twitter, Facebook, Bebo, Orkut, Flickr, MySpace, Blogger, Technorati và hàng trăm trang web khác ít được biết đến hơn, cả đang hoạt động, đang ẩn lẫn ngừng hoạt động. Chó ngoan, - tôi thầm khen nó. Tưởng tượng mà xem, người ta từng gọi nó là Siêu xa lộ thông tin. Siêu kho thông tin thì đúng hơn. Đống rác lớn nhất và bốc mùi nhất thế giới. Bãi rác Staten Island của đầu óc. Bất chấp, LEON vẫn xử lý hết. Esta bien.
Dữ liệu lại được thu hẹp. Tôi chuyển quân đến không gian có tên là "ngôn ngữ đặc trưng". Về cơ bản, nó là danh sách những từ ngữ tầm phào (như Ngày lên thiên đường (Theo một học thuyết thiên chúa giáo, ngày lên thiên đường là sự kiện chúa Jesu tập hợp các con chiên trên trái đất để đưa lên thiên đường, dến khi hết Khổ nạn lại cùng người quay về), Dajjai (Con quỷ trong quan niệm của người đạo Hồi tin vào thuyết tận thế, sẽ xuất hiện trước ngày Phán quyết), Thuyết tái thế BI, Âm ti, Kali Yuga (Thời đại của quỷ Kali, một trong bốn giai đoạn của một chu kỳ sinh diệt của thế giới theo quan niệm của tín giáo)), các câu nói tầm phào (như "tao có một quả bom", "tao ghét tất cả giống người", "thế giới phải bị hủy diệt") và tất cả những gì gợi cho công cụ tìm kiếm ngày một tinh tế của LEON nhớ đến các từ ngữ kiểu như vậy. Tôi nhắc nó liên tục kiểm tra các lỗi chính tả nhưng có thể bỏ qua các lọai ngôn ngữ lăng nhăng. Nghỉ vài giây đi. Mày giỏi lắm.
LEON suy nghĩ và chuyển quân.
Hừ.
Mười ngàn bốn trăm bốn mươi.
Nghĩ là, đến lúc này , sau ba trăm tám mươi nhăm lần chuyển quân, tôi – hay tôi nên nói là LEON và tôi – đã nhận diện được mười ngàn bốn trăm bốn mươi tên doomster tiềm năng.
Dĩ nhiên, chúng tôi đã bỏ qua rất nhiều đối tượng. Tên doomster có thể đã lọt ra ngoài cùng chỗ nước thừa mà chúng tôi đã hất đi. Nhưng tôi vẫn cá một ăn ba rằng hắn nằm trong số mười ngàn bốn trăm bốn mươi này.
Không tồi. Giờ thì chỉ cần lăn lưng với cái đống này thôi. Nào.
Tôi chuyển quân. LEON chuyển quân. Sợi dây vẫn còn ở rất cao nhưng nó đang tiến gần xuống mặt đất. Tám sọ. Tôi mất một sọ. Bảy sọ. Không phải Alaska. Cũng được tí kết quả rồi. Hừm. Không phải California.
A ha!
Không phải ở Mỹ.
Vậy hắn là người Canada.
Kiểm tra các lại các khả năng. Hắn vẫn ở Canada. Tôi cả gan đánh cược là British Columbia hoặc Alberta (Hai tỉnh niềm tay nam Canada). Có thể bỏ qua toàn bộ vùng phía bắc được rồi. A ha. Tao sẽ tóm được mày, cái thằng mông đường thích (Một sản vật của Canada, nơi cây thích là biểu tượng của đất nước) chết toi kia.
Tôi chuyển quân. Hình như tôi đang đứng đâu đó gần Vancouver (thành phố lớn nhất của British Columbia.) Bây giờ là ngày 10 tháng 12, mười một ngày trước ngày Chúa tể 4, và tôi đang tìm kiếm trong đám sương mù. Tôi không thấy gì nhiều lắm nhưng có cảm giác rằng đám sương mù đang tan dần và mọi thứ sẽ sáng sủa hơn. LEON chuyển quân. Được rồi. Không phải ở đó, - tôi nghĩ. Ở kia. Không. Không phải ở kia. Không phải ở đây. Không phải ở đó. Tôi xem lướt qua các hồ sơ. Rất nhiều trong số đó chỉ là những cái tên với một vài thông tin mà không có tên. Có cái chỉ có ký danh của người dùng. Dù gì thì cũng cứ kiểm tra – tôi nghĩ. Đừng có làm thằng ăn mày kén chọn. Được rồi. Đây. Không phải. Không phải hắn. Không phải hắn. Tôi lại có cảm giác gần như chạm được vào sợi dây, chỉ có điều nó cứ nhảy tanh tách từ chỗ này sang chỗ khác, vuột khỏi tay tôi trong cơn bão. Đây rồi. Tôi tóm lấy nó. Những mẫu dữ liệu không trùng khớp chảy ra và biến mất như những tuyết tan trong không trung. Tuột mất rồi. Cố lên nào. Đi tiếp đi. Tôi chuyển quân. Đây rồi. Mọi thứ quả thực đã rõ nét hơn. Hay đúng hơn là… hừm. Chúng không rõ nét về hình dạng, mà về ánh sáng, ánh sáng…
Ái dà. Một vầng sáng xuất hiện phía trước, một vệt màu, đỏ tươi rực rỡ như màu sơn móng tay của tượng thần Maximôn ở San Cristóbal Verapaz. Lạ thật, - tôi tự nhủ. Màu đỏ là màu của phía đông nam. Nó làm gì ở vùng đất Xám này? Hay là mình đi sai hướng? Có thể lắm.
Bíp. LEON chuyển quân.
Hừ.
Màu đỏ tươi. Được rồi.
Tôi chuyển quân. Còn bảy sọ. LEON chuyển quân. Còn sáu sọ. Tôi lưỡng lự. Còn có năm. LEON chuyển quân. Bốn sọ. Tôi chuẩn bị chuyển quân. Không, chờ đã. Tôi rụt lại. Mẹ kiếp. Đừng có nghĩ thật thà thế.
Hít một hơi đã.
Tôi liếc nhìn lên đồng hồ trên màn hình. Ba giờ chiều. Vậy là tôi đã chơi gần tám tiếng đồng hồ, trước đây tôi chưa từng chơi được lâu đến vậy. Nhưng mặt khác, tôi cũng mệt mỏi chưa từng thấy. Mất thăng bằng, suy nhịp tim và vất vả lắm mới nhớ ra được tên mình. Tôi bám lấy hai cạnh của cái bàn phím như thể nó có thể dùng làm phao nếu tôi ngã xuống nước. Cố mà tỉnh táo đi, Jed. Đến những nước cuối rồi.
Đâu đó, những hạt cuối cùng của Bụi Của Người Chèo Xuống Già phát huy tác dụng ngay trước khi các khớp thần kinh bị phê quá liều của tôi suy sụp. Tôi vẫn còn đủ sức phân vân không biết cái vệt màu khi có phải manh mối dẫn điều gì đó không. Một hình thù, một con vật, thứ gì đó liên quan đến màu đỏ ấy, thứ gì dó tôi từng nhìn thấy, một con số, hay thậm chí một từ, một cụm từ?
Tôi chuyển quân. LEON chuyển quân. Còn ba sọ. Còn hai sọ.
Một từ chăng? Không, là hai từ. hai từ ngắn. Từ gì đó tôi từng nhìn thấy, từ gì đó không có nhiều nghĩa lắm. Nó là gì nhỉ, là gì nhỉ…
Tôi chuyển quân.
Một sọ…
Hell Rot à?
69
Trên cửa sổ màn hình thứ nhất, một khối phơ-rông-lạnh (Một hình thái gây mưa.) trải rộng tám trăm dặm, màu vàng nóng trên nền xanh lam sẫm của vịnh Alaska, di chuyển về hướng tây với tốc độ mười hai dặm một giờ. Theo khung chú thích kèm theo, khối không khí sẽ đổ bộ vào bờ biển British Columbia vào lúc 5h30 phút sáng theo giờ chuẩn Thái Bình Dương, tức là sau năm mươi nhăm phút nữa. Mặt trời sẽ mọc vào lúc 5 giờ 22 phút, tức là hai mươi mốt phút sau giờ ấn định của cuộc tấn công. Trên cửa sổ màn hình thứ hai là một hình ảnh chưa được làm tăng độ nét từ vệ tinh do thám KH-13 Ikon, tôi nhìn thấy eo biển George tối sẫm bên tay trái, những đốm đèn đường màu da cam của Vancouver với vệt tối màu của con sông chảy qua, tiếp đến, bên tay phải là cái đuôi dài sáng trắng ánh đèn của đường cao tốc xuyên Canada chạy về phía đông theo hình chữ U rộng lòng, men theo bờ sông Fraser. Ở điểm tận cùng của chiếc đuôi bên góc phải màn hình là một vệt sáng nhòe nhòe nhìn cửa sổ màn hình thứ năm. Nó có hình ảnh nét thu từ một máy quay đặt trên tháp truyền hình cách trung tâm năm khu nhà, bao quát được toàn bộ 800 khu nhà từ một góc nghiêng 45 độ. Qua góc quay này, có thể thấy căn nhà có áng chừng bốn phòng ngủ, vừa đủ kiểu cách để người ta nhận ra là nhà của người da trắng. Thềm trước cửa có bốn bậc dẫn lên một hàng hiên có mái che, khoảng trống này sẽ làm đội phản ứng nhanh mất chừng một giây gì đó. Nhưng ngôi nhà không lớn lắm – khu này được xây dựng từ năm 1988, ngay trước thời kỳ hoàng kim của McMansion (Tên dùng để chỉ những căn nhà lớn của tầng lớp trung lưu) – và tay đội trưởng nói họ có thể kiểm soát toàn bộ trong vòng không đến tám giây. Các căn nhà ở cả hai bên đường đều na ná như căn nhà này, chỉ khác nhau tí tẹo. Một vài sân nhà có trồng mấy cây phong đang độ tráng niên. Chúng vẫn chưa ra lá. Mọi thứ nom có vẻ bình thường. Thậm chí có thể coi là định nghĩa của sự bình thường. Lúc trước thì mình có thể khẳng định như vậy, - tôi nghĩ. Từ vài chục năm nay, ai cũng biết rằng các khu ven đô là một ý tưởng tồi, nhưng người ta vẫn cứ xây dựng chúng rồi bây giờ lại thắc mắc không biết những điều tệ hại đầu từ đâu tới.
Ông bố và bà mẹ - ở tuổi ba mươi sáu, Madison Czerwick vẫn sống cùng cha mẹ - hầu như chắc chắn đang ngủ ở phòng ngủ lớn ở tầng hai. Ai đó, có thể là em trai hắn, ngủ ở phòng phía sau. Madison – chúng ta sẽ gọi tên hắn thay vì họ - nhiều khả năng đang ngồi trong phòng mình. Tất cả các màn hình chuẩn bị cho xong các đường ống.
- Cảm ơn cô, Vergara, - Boyle đáp. Cô á? Vào lúc khác, tôi và tất cả những người khác có lẽ đã phì cười. Nhưng hôm nay thì không. Ana – người té ra ít giống lính tráng, mà giống vận động viên nhà nghề hơn tôi nghĩ – là một trong khoảng ba mươi hành khách ngồi trong toa moóc của một chiếc xe nhà di động được cải tạo khá lịch sự, đỗ cách số nhà 820 chừng mười khu nhà.
- Đây, họ đây rồi, - Ana nói. Con trỏ của cô ta xuất hiện trên màn hình số 5, khoanh tròn quanh một nhóm bốn người đang nối những cái ống dài màu trắng vào sau hai chiếc xe téc màu vàng. Họ xếp những cái ống thành hai đường thẳng thớm dẫn đến nơi cách nhà 820 năm mươi feet, mỗi đầu để chừa vài trăm feet. Ngừng lại một lát. Ai đó vặn van, hai đường ống căng lên, đến chỗ để chừa thì dừng lại, tôi đoán ở đó có một cái van khác để chặn. Đã thấy hơi nước tụ dày đặc quanh hai đường ống. Chúng chứa đầy nitơ lỏng mà chúng tôi hy vọng có thể khống chế Con Dê.
Trong ngày điều tra đầu tiên, các thám tử phát hiện ra Madison đã từng bị "tước quyền" tiếp xúc với một quần thể Brucella abortus được "gây với mục đích đặc biệt". Đến cuối ngày thứ hai, họ khẳng định rằng các hoạt động trên mạng internet của hắn, nhất là các bản đồ gen mà hắn tải về, cho thấy hắn đang tích cực tìm hiểu cấu trúc AND của chúng. Brucella (Vi khuẩn này không lây từ người sang người) là một loại vi khuẩn lâu đời và đáng tin cậy, anh chỉ có thể bị nhiễm khi đỡ đẻ chO một con trâu nước hay uống sữa dê chưa tiệt trùng chẳng hạn. Lâu nay, nó vẫn được gọi là bệnh sốt Malta, "sốt dê", sảy thai nhiễm khuẩn (Ở gia súc), bệnh dịch Bang và hàng trăm cái tên khác. Chúng tôi thì chỉ gọi đơn giản là Con Dê. So với loại vi rút được phát tán ở Disney World, các triệu chứng do vi khuẩn này gây ra chẳng là gì: bất thần đổ mồ hôi có mùi như rạ ẩm, đau cơ, choáng váng và tử vong, dĩ nhiên. Cũng khá ghê rợn, nhất là phần đổ mồ hôi. Tốt nhất là nhớ mang theo một lọ khử mùi hữu cơ trên đường xuống âm ti.
Tai tiếng lớn nhất của Con Dê là nó là loài khuẩn hình que đầu tiên được vũ khí hóa bởi tay chính phủ Mỹ. Năm 1953, họ đã thử nghiệm nó trên động vật, dưới dạng bom chùm tương tự như với khuẩn than sau này. Lực lượng không quân đã chọn sử dụng nó vì không như phần lớn các khuẩn hình que khác, nó có thể tồn tại nhiều giờ trong quá trình chuyên chở bằng máy bay, và thú vị hơn, nó có thể xâm nhập qua da người mà không cần có vết sứt sẹo nào, vì thế, khi chuyển chúng từ ống nghiệm này sang ống nghiệm khác, dù anh có đeo mặt nạ chống hơi độc NBC mà để hở một mảng da thì anh cũng sẽ thành mẩu bánh nướng.
Tuy vậy, đến những năm 1970, các chủng còn lại của loài vi khuẩn này đã bị cấm sử dụng và được lưu trữ trong tủ băng tại kho quân sự Pine Bluff Arsenal ở bang Arkansas. Đến những năm 1980, chúng được cho là đã bị hủy. Nhưng từ đó trở đi, có kẻ nào đó vẫn đang táy máy với loại vi khuẩn này, hoặc để phát triển các phương thức chống lại nó, hoặc để bán, hoặc có thể cả hai.
rong vòng mười sáu tháng kể từ khi mất việc ở chi nhánh Vancouver của CellCraft, Madison đã phát triển Con Dê lên mức đáng kể. Chủng Czerwick – theo dự đoán của Trung tâm Phòng chống và Kiểm soát Dịch bệnh qua những những gì họ tìm được trong ổ cứng máy tính của Madison – hiện có các đặc tính tức thời phổ biến như sinh sản nhanh, kháng chất diệt trùng, không gây triệu chứng ngay sau khi nhiễm và hoạt động như một quả bom hẹn giờ chính xác đến từng ly. Nhưng đặc điểm cải tiến đang chú ý nhất là khả năng truyền nhiễm linh hoạt. Các chủng Brucellis cổ điển có thể lây truyền từ một vài loài động vật sang người và có thể là từ người sang động vật. Nhưng đa số các loài động vật hoàn toàn miễn nhiễm, hoặc do tuổi thơ hoặc phương thức sống mà không thích hợp để làm trung gian truyền bệnh cho người.
Công trình của Madison đã đào rộng thêm cái hố của các trung gian truyền bệnh tiềm năng một cách đáng kể.Chủng vi khuẩn mới biến đổi nhanh hơn, theo hướng dễ thích nghi hơn bất cứ loài khuẩn hình que tự nhiên nào khác. Cứ như thể chúng tự biến đổi được AND của chính mình để thích ứng với cấu trúc prô-tê-in của hàng trăm họ động vật khác nhau cứ không chỉ loài linh trưởng. B, czerwichi có thể nhảy qua rào cản của sự khác biệt giữa các loài hết lần này đến lần khác, nhảy qua nhảy lại, khắp sinh quyển. Thông thường, bệnh dịch sẽ ít gây tử vong hơn khi chúng lan rộng – vì nếu không sẽ chẳng còn động vật trung gian nào để truyền bệnh – nhưng vì có quá nhiều loài có thể làm trung gian truyền Con Dê nên cũng còn chán mới đến được cái ngưỡng ít gây tử vong ấy. Theo một vài dự đoán của Trung tâm Phòng chống và Kiểm soát Dịch bệnh, Con Dê có thể giết sạch các loài thuộc họ linh trưởng và toàn bộ hoặc phần lớn các loài có vú khác. Điều đó cho anh thấy con chồn nhỏ Czerwick mà tức giận thì sẽ như thế nào.
Giống như các vị tổ tiên của mình, Con Dê có thể bị tiêu diệt bằng kháng sinh trị nhiễm trùng tiêm thẳng vào cơ. Nhưng với việc phát bệnh hàng loạt vào đúng một thời điểm ấn định trước, sẽ chẳng có đủ thuốc kháng sinh cho tất cả, cho dù còn đủ người để đi phân phát chúng. Và đương nhiên, Trung tâm Phòng chống và Kiểm soát Dịch bệnh đã bắt tay vào nghiên cứu vắc-xin, nhưng phải mất thêm một thời gian nữa mới hoàn tất và hơn một năm nữa mới có thể sản xuất được thuốc hàng loạt. Các dự đoán của Trung tâm Phòng chống và Kiểm soát Dịch bệnh – hay chí ít cũng là các dự đoán mà chúng tôi được biết – chỉ ra rằng chỉ một số người sinh sống ở các vùng gần cực có thể sống sót. Nhưng với khả năng chịu lạnh của Con Dê, con số đó cũng sẽ không nhiều. Thứ vi khuẩn đó có thể lây khắp các loài này sẽ khiến vùng cận cực cũng trở nên quá nóng đối với con người trong vòng vài thập kỷ, ít nhất là thế.
- Anh nghĩ hắn có bao nhiêu thứ đó trong đấy? – A2 hỏi. Tôi nhận ra cô ta đang đứng kiễng chân để ghé được vào tai tôi. Tôi đoán cô ta quá lịch sự hoặc quá câu nệ để nắm lấy vai tôi và kéo đầu tôi thấp xuống. Tôi hơi cúi xuống.
- Ana đoán khoảng hai ga-lông, - tôi đáp. – Hắn dùng bovine colloid (Một loại protein dùng làm môi trường nuôi cấy vi khuẩn) nhiều như cháo đậu vậy.
- Như thế có đủ không?
- Ý cô là có đủ để tiêu diệt cả hành tinh không á?
- Ừ.
- À, cô phải tính rằng mỗi ga-lông chứa khoảng ba phẩy tư nghìn tỷ con vi khuẩn, - tôi đáp, - vì vậy, nếu tốc độ phân chia là 10% một ngày thì ngay cả khi tỉ lệ chết tự nhiên là 20% một ngày, cô cũng sẽ có 2 x 1018 con trong vòng một tuần, nhiều hơn phần lớn các đại dịch khác.
- Ồ.
- Đúng thế đấy. Tùy thuộc vào số lượng các loài trung gian truyền bệnh tăng thêm… trong vòng một tháng, nó sẽ đông đúc và phổ biến như… như khuẩn tụ cầu chẳng hạn.
- Gesundheit ("Sức khỏe", một câu trong tiếng Đức mà người ta thường nó khi có người hắt hơi), - Micheal ghé vào tai tôi.
- Cảm ơn, - tôi đáp.
- Phải đấy, chẳng có gì hài hước bằng chuyện cười về cái giá treo cổ, - lão gật gù.
- Chí ít thì có vẻ như họ đã nắm rõ tình hình, - Ana nói.
- Hy vọng thế, - tôi đáp. Thực ra cô ta đúng, hay phải nói là đúng hơn tôi. Theo những gì tôi thấy, chí ít là vậy, các thám tử Mỹ và Canada – thật đáng kinh ngạc – đã hoàn thành xuất sắc công việc. Tôi tưởng họ sẽ mất hàng tuần để thu thập các chứng cứ kết tội hắn, nhưng họ đã xong xuôi chỉ trong có vài ngày. Thực tế, hắn đã để lại khá nhiều dấu vế trên blog, đủ để các bạn nghĩ rằng đáng ra tôi phải phát hiện ra hắn từ lâu rồi. Hắn cứ lải nhải suốt rằng vụ Disney World là do bàn tay của một kẻ lo sợ người khác sẽ làm việc đó trước hắn, rằng hắn lo sợ một thằng nhãi ranh nào đó sẽ ăn cắp vị trí của hắn trong lịch sử chứ không thực sự quan tâm đến vấn đề này. Đáng ra mình phải biết là hắn ngay từ lúc ấy chứ - tôi tự nhủ đến lần thứ "n". Thằng đần. Nhẽ ra mình đã có thể tránh được toàn bộ chuyện này. Nhưng đâu có dễ thế, phải không? Nhất là đối với một người như tôi, người phải gắng sức mới có thể thấu cảm. Dù sao, cứ nghỉ ngơi tí đã. Hell Rot không phải một trang web thông dụng, nhưng hàng ngàn người đã xem nó, trong đó có cả các nhân viên lưu ý, bất chấp việc nó có những câu như thế này:
Con người đã viết sách, làm
phim và trò chơi về NGÀY TẬN
THẾ TỪ BỐN NGÀN NĂM NAY
BỞI HỌ BIẾT ĐÓ LÀ ĐIỀU NÊN
LÀM. Và cuối cùng điều đó cũng có thể
thực hiện được [trích dẫn nguyên văn]
Có lẽ nó lọt lưới đơn giản vì Madison không đề cập thứ gì cụ thể. Hắn không nhắc đến bất cứ cái tên, địa điểm hay ngày tháng nào. Nói đến chuyện này, có điều lạ lùng rằng hình như hắn đã chọn ngày 21 tháng 12 một cách ngẫu nhiên, chí ít là qua những gì thấy trên blog của hắn. Không hề có chữ nào về lịch Maya hay những thứ liên quan đến thời kỳ tiền Columbia, hay bất cứ thứ gì tương tự. Như thế hắn đơn giản lôi nó ra từ cái mũ giấy của mình, mà tôi chắc chắn không phải vậy.
- Hai trăm giây, - Ana nói.
Tất cả mọi người trong phòng ngồi thẳng người dậy. Micheal Weiner chuẩn bị ho nhưng cố nén lại. Lần này không có ai nôn mửa. Người nào đó bật đài ánh sáng không làm chói mắt kính nhìn trong đêm của họ, và rằng chuông báo động ở cửa nhà Czerwick đã được ngắt tại trạm cung cấp dịch vụ, và rằng bà Czerwick nuôi hai con mèo chứ không nuôi hai con chó. Ana cũng thông báo rằng toàn bộ sáu con chó của nhà hàng xóm, được đánh giá là cảnh giác quá mức, đều đã bị đánh thuốc an thần nhẹ. Tôi không biết rõ họ làm điều ấy bằng cách nào, nhưng họ không muốn lộ thông tin cho bất cứ ai ở các nhà xung quanh, vì thế, có thể là họ cho người lẻn vào, mang theo diazepam nhét trong thịt lợn muối xông khói. Sự chuẩn bị ở đây còn bao gồm cái họ gọi là "làm chậm đường dây". Tức là vào lúc hai giờ sáng, họ đã đẩy lùi thời gian của toàn bộ căn nhà đi sáu mươi giây. Họ cài đặt lại đường dẫn đến đồng hồ nguyên tử trên các máy tính của Madison, chỉnh đồng hồ trên internet và trên điện thoại di động chậm đi sáu mươi giây, thậm chí còn gửi các tín hiệu mới đã được làm chậm thời gian đến chảo bắt sóng truyền hình trên mái nhà và các máy radio kiểu cũ mà người trong nhà có thể bật lên. Đương nhiên, tất cả đồng hồ đeo tay, đồng hồ bàn và đồng hồ bỏ túi không được kết nối qua sóng hoặc mạng internet sẽ tắt hết, nhưng thời buổi này ai còn xem giờ bằng những thứ ấy nữa? Như vậy, nếu có kẻ ba hoa nào nhận thấy có chuyện đang diễn ra ở đây và bắt đầu thông báo trên mạng và truyền hình (tôi thấy nó đủ ghê gớm để làm xôn xao cả nước) thì họ sẽ chặn được nó lại.
- Rồi, - viên sĩ quan chỉ huy nói. – Đơn vị Brown, tôi muốn…
Sóng radio bị ngắt. – Im lặng.
Có cảm giác rằng tất cả - nghĩa là tất cả những người ngồi trong phòng hội thảo này – đều đang nhấp nhổm một cách bất an, hệt như đang xem hồ sơ của CIA thì có một cái bút bôi đen gạch xoẹt mất một dòng.
- Tôi cá là anh ta đang kiểm tra các FAE, - giọng Ana vang lên.
Ý cô ta là bom nhiệt áp. Và cô ta đang ám chỉ tới một mẩu thông tin mà chúng tôi, có thể là cả những người đang ngồi trong xe moóc, thậm chí có thể là chính Lindsay Warren – người chắc chắn đang ngồi xem từ phòng an toàn cách ly mầm bệnh ở Hyperbowl – đáng ra không được phép biết.
Trước đó, trong các buổi họp bàn về chiến dịch Con Dê, đã có không chỉ một người nhắc đến khả năng phá hủy cả thị trấn. Hình như thời buổi này, một việc như vậy có thể được thực hiện chỉ bằng một chuỗi bom nhiệt áp đặt ở các vị trí sao cho đảm bảo thiêu hủy mọi thực thể sống trong khu vực. Ana cho biết Mỹ đã làm như thế hai lần ở Afghanistan, và cả hai lần, không một hiểm họa sinh học nào lọt được khỏi các nhà máy bị tấn công. Tuy nhiên, lựa chọn này bị loại bỏ khá nhanh chóng, không phải vì vấn đề lương tâm, mà vì vẫn có khả năng Madison âm mưu cùng những kẻ khác – bất kể các phân tích tâm lý cho thấy khả năng này không nhiều – hoặc có những kẻ khác biết về hắn, hoặc hắn biết về những kẻ khác, hoặc hắn đã gửi một vài phần của công trình nghiên cứu cho những kẻ khác qua thư điện tử, hoặc những kẻ khác đã gửi thứ gì đó cho hắn, hoặc kinh khủng nhất là hắn đã bắt đầu phát tán vi khuẩn. Chưa rõ hắn lên kế hoạch tiến hành việc này như nào, nhưng có thể chỉ đơn giản là gửi các gói nhỏ đến nhiều địa chỉ khác nhau khắp thế giới.
Hai ngày trước, Ana nói với chúng tôi rằng cô ta đoán các quả bom áp nhiệt vẫn được nối mạch và đặt quanh thị trấn và rằng ai đó ở Victoria sẽ cho nổ nếu họ khẳng định rằng sự phát tán không thể kiểm soát đã diễn ra. Cô ta nói một phần lý do của sự "bỏ rẻ" này là các bị chóp bu ở Washington D.C và Ottawa – giám đốc FBI và CSIS (Cục Tình báo Canada) chẳng hạn – không muốn phải lộ diện. Nếu các chuyên gia về chiến tranh sinh học khẳng định rằng sự phát tán không thể ngăn chặn đang diễn ra thì chúng tôi nên sẵn sàng đón nhận việc cả khu vực này biến mất và hy vọng rằng nhiệt của quả bom đã diệt được phần lớn vi khuẩn. Trong cuộc hội đàm nhiều bên qua điện thoại, Micheal đã hỏi cô ta rằng vì sao cô ta vẫn còn ở đó, trong khu vực bị cho nổ, nhưng Ana bỏ qua câu hỏi. Tôi đoán đơn giản là cô ta quá nam tính để nghĩ đến những chuyện ủy mị đàn bà như tính mạng cá nhân.
Tiếng viên sĩ quan chỉ huy lại cất lên.
-…hai mươi giây. Tất cả sẵn sàng chưa?
Căn phòng chúng tôi ngồi im phăng phắc. Trên loa, chỗ Ana đang ngồi cũng không một tiếng động. Trên màn hình, căn nhà số 820 phố Marguerite vẫn bình yên. Ai đó vừa bật tiếng của chiếc micrô thu tiếng trên phố Marguerite, có tiếng bồ câu gù gù và một chút gió nhẹ thổi qua các cành cây trơ trụi, nhưng ngoài ra không còn gì.
- Khoan, chờ đã, - tiếng viên sĩ quan chỉ huy. – Tạm dừng đếm ngược.
Lại một sự im lìm. Thoạt đầu là khó chịu, rồi khó chịu hơn, rồi không thể chịu đựng được. Quanh tôi, người ta ngọ nguậy. Tôi gửi thấy mùi mồ hôi trong phòng. Có âm thanh là lạ ngay cạnh tôi và tôi nhận ra đó là răng của A2 đang va lập cập. Có nên vòng tay sang ôm lấy cô ta không nhỉ? Không, đừng. Không khéo cô ta sẽ đột quỵ nếu có thứ gì chạm vào người bây giờ.
- Cửa sổ màn hình số 6, - Ana thông báo, - không có gì đặc biệt, một người hàng xóm thôi.
Con trỏ của cô ta chỉ vào ai đó với mớ tóc đỏ lồng phồng, mặc áo choàng tắm. Đó là một phụ nữ ở nhà bên cạnh, số 818. Bà ta uể oải đi ra chỗ chiếc xe ô tô đang đậu ở lối vào nhà, chậm rãi mở cánh cửa, lục lọi tìm thứ gì đó ở ghế trước nhưng không thấy, liền lững thững vòng sang cửa ghế lái. Tôi tưởng mình sắp giật bong cả da đầu. Chỉ còn cách giờ phút quan trọng nhất của trái đất kể từ sau vụ thiên thạch Chicxulub có mười hai giây và chúng tôi đang phải chờ một bà Endora nào đó đi tìm lọ thuốc nhuận tràng của bà ta. Bà ta mở cánh cửa bên ghế lái, tìm thấy thứ cần tìm, đóng nó lại, lệt xệt kéo đôi dép lê to tướng quay vào nhà. Đến lúc này, tôi chắc chắn một người nào đó trong số chúng tôi sắp nôn, hoặc mất kiểm soát đường ruột, hay chí ít là bất tỉnh. Nhưng chẳng ai làm sao hết. Tôi đoán chúng tôi hoặc đơn giản là những kẻ sắt đá, hoặc đã dùng thuốc đủ mạnh.
Cửa nhà 818 khẽ đóng lại.
- Được rồi, - viên sĩ quan chỉ huy nói. Ngay cả giọng anh ta cũng có phần run run. – Tất cả vẫn ở nguyên vị trí chứ? Tốt. Đếm ngược lại từ đầu, hai mươi giây.
Một giọt gì đó lăn xuống má tôi, tôi nhận ra đó là mồ hôi từ chính trán mình. Tôi chùi mặt vào cổ tay áo jacket – chính là chiếc áo hiệu Varvatos màu xám tôi mặc trong chuyến đi cùng Marena và Max cách đây bảy mươi triệu năm – nhấc chiếc mũ lên, dùng tay xoa một vòng quanh mớ tóc chưa mọc và lại đội vào. Ôi giời. De todos modos.
- Bảy, sáu, - tiếng viên sĩ quan chỉ huy. – Sẵn sàng nào. Ba, hai, xuất phát.
Trên cửa sổ màn hình số 5, mười lính của đơn vị A và B lao qua bãi cỏ như bóng những con quạ bay ngang qua mái nhà. Xem ra họ đã chuẩn bị chìa khóa của cả hai cánh cửa, chúng mở ra mà không gây bất cứ tiếng động nào chúng tôi có thể nghe thấy và hai đơn vị đã lọt vào bên trong. Họ mất tròn bốn giây để ào qua sảnh, vào phòng khách, phòng ăn và lao lên các bậc cầu thang trải thảm nhựa. Hình ảnh thu từ máy quay đặt lên trên mũ của một người cho thấy lờ mờ những bức ảnh đóng khung nhựa mạ vàng trên tường: các lễ tốt nghiệp, các đám cưới và ảnh Madison nhận cúp phần thưởng ở hội chợ khoa học của trường tiểu học. Thông thường, đội đặc nhiệm làm ầm ĩ hết mức có thể khi họ ập vào nơi nào đó, nhưng cuộc đột kích này được vạch kế hoạch trên giả thiết rằng Madison có thể đang đặt ngón tay lên kíp nổ. Vì vậy, chỉ có tiếng cọt kẹt của ván sàn, tiếng ro ro của cái tủ lạnh cũ trong bếp và những cái bóng thoăn thoắt như thể căn nhà là một cái chuồng chim lớn và lũ quạ đang bay về, con nào rúc vào tổ con nấy. Các tay lính đồng loạt ập vào ba buồng ngủ. Ôi, trời ơi. Một khuôn mặt. Một khuôn mặt gớm ghiếc nhe nanh như thằng ăn cướp thình lình lao bổ vào chúng tôi trên màn hình của chiếc camera gắn trên chiếc số 6. Có tiếng thở hổn hển quanh tôi, và Lisuarte giật mình co rúm người lại. Đó là một trong hai con mèo của nhà Czerwick trong tư thế vồ. Nó biến khỏi màn hình. Khi hết giật mình, chúng tôi nhận thấy, qua camera gắn trên mũ của hai người khác thuộc đơn vị A, ông bố và bà mẹ đang bị khống chế một cách khá lặng lẽ trên giường. Một bàn tay rắn rỏi đeo găng Kevlar bịt lên miệng bà Czerwick. Trên màn hình camera số 9, họ đang khống chế thằng em trai hai mươi bảy tuổi của Madison, hắn vùng vẫy và đá chân đá cẳng nhưng vô ích. Và chiếc camera số 6, chiếc đã đụng độ với con mèo, lúc này đang ở bên trong phòng Madison, trên đó…
Hở, Madison không ở trong phòng hắn.
- Ôi, chó chết thật, - Tony Sic nói.
- Số 16, - Larry Boyle nói. Giọng hắn the thé một cách bất thường, - xem số 16.
Chúng tôi nhìn sang màn hình số 16. Đó là hình ảnh thu từ camera của một lính thuộc đơn vị C. Có cái bóng lờ mờ của các bậc thang tầng hầm, một vài hình thù sáng lên giữa một khoảng tối, và sau một vài hình ảnh khác trong chưa đến nửa giây, một chiếc sô pha hiện lên. Một bức tượng bán thân béo lùn, tr*n tr** ngồi trên sô pha. Một cái đầu cắm trên bức tượng. Một cái miệng rộng há ngoác nằm giữa khuôn mặt. Đó là khuôn mặt của Madison. Có tiếng động nghe như một cái loa trầm bị nổ dây loa và toàn bộ màn hình camera của đơn vị C tối sầm lại.
- Đó là NFDD, - tiếng Ana vang lên với những âm thanh rin rít hoặc rền rĩ gì đó phía sau.
- Là cái gì thế? – Michael Weiner hỏi. Bộ xử lý hình ảnh của cá camera trên mũ đã bắt đầu tự điều chỉnh và một vài hình ảnh lộn xộn xuất hiện lại trên các cửa sổ màn hình.
- Thiết bị nghi binh âm thanh và ánh sáng, - cô ta đáp. Một trong số các lính đột kích đã quăng thứ mà họ gọi là "cú đánh kép" vào tầng hầm. Đó là một vật nhìn như hai quả bóng quần màu vàng cặp vào với nhau. Một quả là lựu đạn cháy nổ thông thường với cường độ sáng tám triệu candela và tiếng nổ 180 decibel. Quả thứ hai là lựu đạn hơi cay, phát tán khoảng hai trăm hạt cao su rắn nhỏ li ti. Nó làm suy yếu đối tượng một cách an toàn hơn, nhất là khi hắn kịp nhắm mắt và bịt tai trong lúc lựu đạn nổ.
- À, phải, - Micheal đáp.
- Suỵt, chúng tôi muốn nghe đoạn này, - Larry Boyle nói.
Chúng tôi lắng tai nghe nhưng tất cả những gì nghe thấy chỉ là một tiếng ré như dê kêu. Nó lịm dần thành tiếng thở hổn hển nặng nhọc, và rồi hình như hắn đột nhiên lấy lại được giọng.
- Vụ tấn công này là sao đây? – hắn hỏi. Cái giọng nam cao của hắn rất quen thuộc với chúng tôi qua máy nghe trộm điện thoại, nhưng lại rờn rợn khi nghe trực tiếp như thế này, nhất là khi nó điềm tĩnh một cách khác thường. Các tay lính đột kích bật đèn flash và chúng tôi trông thấy hình ảnh cận cảnh chân thực bộ mặt của Madison. Tôi nghĩ hắn định nói tiếp "các ông cảnh sát?" nhưng chưa được một nửa thì mấy bàn tay đeo găng đã chẹn lên miệng hắn. Lính đột kích không được để hắn nói ra bất cứ điều gì, phòng khi hắn có công tắc kích hoạt bằng giọng nói đặt ở đâu đó. Trên các màn hình lại xuất hiện những hình thù nhiễu nhằng nhịt trong vòng hai giây, sau đó, chiếc camera thứ 13 nét dần, hiện rõ hình hai bàn tay bóp miệng Madison há ra, bàn tay thứ ba moi móc dưới lưỡi hắn, như thể hắn là một điệp viên phản gián Nga những năm 60, đang chuẩn bị nuốt một viên xyanua. Cuối cùng, họ đẩy hắn đi lên cầu thang. Trên màn hình số 5, bãi cỏ của nhà Czerwick và đại lộ Marguerite bỗng đông đặc cảnh sát trong cảnh phục đen, đột ngột đến mức tôi liên tưởng ngay tới cảnh hỗn độn trong phòng thể thao của bộ phim Bẫy chim. Ai đó bật tiếng của một chiếc camera đặt ngoài trời, có thể nghe tiếng máy bay trực thăng kêu trên đầu và còi báo động ré lên. Trong vòng chưa tới ba mươi giây, Madison đã bị trói vào một cái cáng và khiêng ra xe cứu thương dành riêng cho hắn. Chiếc xe thứ hai đã khởi hành với toàn bộ thành viên còn lại trong gia đình hắn. Tất cả chúng tôi tập trung có bất kỳ sự tra tấn nào trong quá trình hỏi cung. Có lẽ sau này chúng tôi sẽ nhận được vài đoạn băng ghi hình, nhưng sẽ có những điều mà không ai ngoài cái đám ma quỷ ấy được thấy.
Dù gì cũng đừng bận tâm chuyện ấy ngay lúc này, - tôi tự nhủ. Hãy hỏi Marena khi nào cô ta quay về đây. Cô ta có sở trường moi tin từ người khác. Tôi nhìn lên màn hình số 5. Những chiếc xe đen xì, to kềnh càng, chạy trước và sau chiếc xe cứu thương chở Madison. Cảnh sát đi mô tô chạy kèm song song những chiếc xe. Đoàn xe chậm rãi chạy về phía đông dọc theo đại lộ Marguerite. Họ rẽ về phía nam, chạy vào đường Young và hướng ra quốc lộ 1.
Thế thôi à? – chúng tôi băn khoăn. Chúng tôi nhìn nhau. Dưới tầng hầm, họ đã đặt thêm năm chiếc camera điều khiển từ xa, một loạt của sổ mới hiện lên. Các nhân viên kỹ thuật rón rén xuất hiện rồi lại biến mất khỏi màn hình, rà soát khắp nơi để tìm bẫy mìn. Chiếc TV vẫn đang chiếu đoạn băng s*x của dân đồng tính mà chắc chắn Madison vừa dung để th* d*m. Không ai động đến bất cứ con chuột, bàn phím, điện thoại di động, máy tính bỏ túi, điều khiển từ xa hay bất cứ thứ gì tương tự.
- Chú ý, hai đối tượng tình nghi số một, khu vực Delta, - giọng viên sĩ quan chỉ huy.
- Nó có nghĩa là gì thế? – ai đó hỏi.
- Ý anh ta là hai chiếc tủ lạnh, - Ana trả lời, - trong ga ra. Xem màn hình số 34.
Màn hình cho thấy cảnh hai kỹ thuật viên trong bộ trang phục bảo hộ mạ crôm đứng trên mui chiếc xe tải mui trần của nhà Czerwick và khua một cái ống xịt dài về phía hai chiếc tủ lạnh cao đến hông mà theo những người hàng xóm, ông bố Madison dùng để dựng thịt thú rừng săn được vào mùa thu.
- Họ đang phun xịt chúng, - Ana giải thích, ý cô ta là họ đang phun nitơ lỏng từ xe téc. Ngay cả khi có Con Dê nào đó rò rỉ ra ngoài vỏ bọc, chúng cũng sẽ không qua được lớp băng.
- Tốt lắm, - Larry Boyle khen, - các vị làm tốt lắm.
Câm miệng lại đi, - tôi, và có thể là tất cả những người khác, nghĩ. Biến đi đâu cho rồi. Một nhóm tách ra từ đơn vị Hazmat B đang leo lên mái nhà, trải ra những cuộn vải nhựa lớn. Các đơn vị khác đang đóng những cọc thép quanh bãi cỏ. Họ muốn niêm phong nơi này, sau đó sẽ quay một khu lớn tựa như cái lều rạp xiếc phủ lên trên căn nhà và ga ra đã được bọc kỹ. Tiếp đến, họ sẽ lắp đặt một hệ thống ống dẫn và bơm đầy khí CO2 vào khoảng trống giữa ngôi nhà và căn lều. Toàn bộ không khí trong nhà sẽ được hút vào một thùng xe téc và điều áp để phân tích. Nó sẽ được thay thế bằng argon.Cuối cùng, khi áp lực trong các hệ thống dẫn hơi đã ổn định, đơn vị chuyên gia về chiến tranh sinh học có thể bắt tay vào phá hủy căn nhà. Một chiếc xe nâng hạ tiến vào ga ra, sẵn sàng chở các khối nitơ đóng băng ra xe téc kín. Như mọi đối tượng tình nghi khác, cả người lẫn vật, chúng sẽ được đưa tới khu cách ly ở Vancouver, nơi chỉ có không khí đi vào chứ không có khí thoát ra. Lúc này, đã có thêm chút ánh sáng ban ngày hòa vào ánh đèn điện. Một ngày như bao ngày khác ở Canada.
Chúng tôi ngồi uể oải. Khi chẳng còn mấy tí để xem, mọi người lần lượt lượn khỏi phòng. Michael Weiner vỗ vào lưng tôi khi lão bỏ đi, như kiểu "Làm tốt lắm, Columbo". Vài thực tập sinh hình như chuẩn bị đi ăn mừng sớm. Số còn lại ngồi yên hoặc đứng loanh quanh trong phòng. Chúng tôi chưa tin rằng mọi chuyện đã xong xuôi nên cứ ngồi chờ có người khẳng định điều đó. Thực ra, tôi đã ra ngoài, đi một chuyến thang máy lên mé đông sân vận động Hyperbowl. Trời u ám và ẩm ướt nhưng có vẻ như cơn mưa sáng đã tạnh hẳn. Một tay lái xe buýt hỏi tôi có cần hắn đưa về khu nhà ở không nhưng tôi đáp rằng không. Từ đây về đó chưa đến hai dặm và đi bộ hết quãng đường là bài thể dục duy nhất của tôi trong thời gian gần đây.
- Này, chào anh, - A2 gọi. Cô ta chạm vào bả vai tôi. Tôi nói "xin chào". Tôi nhìn thấy hai người nữa đang đi phía sau cô ta, cách chừng năm mươi yard,có lẽ là một trong những cái đuôi vẫn lẵng nhẵng bám theo tôi khắp nơi. Tuy đã tìm ra Madison. Nhưng sức khỏe tôi vẫn còn hơi trục trặc sau vụ dùng thuốc quá liều. Cứ kệ họ đi, - tôi tự nhủ. Họ làm thế vì mày thôi mà. Có sao đâu.
Ana muốn theo tôi vào phòng, nhưng tôi nói tôi cần đi ngủ. Cô ta liền quay về. Đó thực ra là một cô gái rất tốt. Tôi uống hai viên Valium xanh (Thuốc giảm căng thẳng thần kinh) và uể oải chui vào giường. Chết tiệt, đúng là tôi hơi mệt thật. Tôi chưa được nghỉ ngơi thực sự từ… tôi cũng không biết nữa. Từ khi học lớp tám hoặc khoảng ấy cũng nên. Tôi lơ mơ ngủ rồi thức, thức rồi ngủ trong hai mươi tiếng liền. Thỉnh thoảng, tôi lại vào kiểm tra tình hình. Không có tin gì mới. Tony Sic gửi tin nhắn trả lời rằng mọi người vẫn đang đứng quanh quẩn quanh các máy bán đồ ăn tự động, nhấp nhổm như ngồi trên kim găm, hay trên dao găm thì đúng hơn. 2 giờ 8 phút sáng, vào giây thứ hai mươi, tôi uống thêm hai viên thuốc nữa. Tôi nhớ giờ chính xác như vậy vì bốn phút sau A2 đập cửa thình thình. Ana vừa gọi điện về. Trong cuộc thẩm vấn thứ hai, Madison khai với các điều tra viên rằng từ tuần trước, hắn đã phát tán một phần tư ga-lông Brucellis, rằng những cuộc thử nghiệm trên chính người nhà và "một vài người bạn" của hắn cho thấy chúng đã đạt đến khả năng lây nhiễm như khuẩn hình que, và rằng – chờ hai cốc Mai Tai (Một loại cốc-tai). Tôi chưa hiểu vì sao mà Marena muốn gặp tôi ở đây, ngoại trừ việc nơi này gần sân bay Belize City. Chắc cô ta muốn dỗ ngọt tôi lên máy bay và đưa về Stake. Tôi ngồi bên chiếc bàn lung lay kẽo kẹt, bé quá thể, trên ban công tầng hai, nhìn xuống đường Fort và cố đoán xem chiếc nào trong số những chiếc ô tô đang đậu là của đám nhân viên ES đang bám đuôi tôi. Xin đánh cuộc là chiếc Econoline sản xuất khoảng năm 1980 kia, - tôi nghĩ. Vỏ xe bẩn thỉu tã nát nhưng kính cửa sổ thì mới và được nhuộm màu sắc nét. Ở quầy bar dưới tầng một không khéo còn vài gã nữa, phòng khi tôi tẩu thoát bằng hai cẳng. Mình nên chụp vài cái ảnh và kiểm tra xem chúng là ai, - tôi tự nhủ. Nhưng mà ai quan tâm chúng là ai cơ chứ? Thật đấy. Lindsay đã đổ hàng đống tiền vào tôi. Nếu ông ta cần cái cảm giác đang bảo vệ khoảng đầu tư của mình thì kệ ông ta. Tôi cúi nhìn màn hình chiếc điện thoại mới. 1 giờ 39 phút chiều. Màn hình nền - ừ thì nó cũng quá bé để cũng được gọi là màn hình nền nhưng chắc các bạn hiểu ý tôi – là bản phục chế mới của bức bích họa tróc lở mà chúng tôi nhìn thấy tại lâu đài ở phế tích Ix, chính là bức vẽ những con dơi và một người đang leo lên kim tự tháp Nữ thần Cốc Đất. Michael đã sử dụng thiết bị tái tạo hình ảnh để xử lý bức tranh và trông nó gần như mới, tuy nhiên vẫn khó phân biệt được cái gì là cái gì. Một con ong bắp cầy chuyên ăn ve sầu bậu lên màn hình. Tôi nhấn nút cho máy rung và con vật bay đi, biến vào không trung ẩm ướt. Mưa vừa tạnh và lúc này, khi mặt trời ló ra, nó như đang được tắm hơi. Môi trường thật thuận lợi cho loài vi khuẩn mới sinh sôi, - tôi nghĩ thầm.
Chỉ có điều chuyện đó vẫn chưa xảy ra. Đến hôm nay – ngày 28 tháng 3 – sự thật đã khá rõ ràng là Madison chỉ nói phét khi khai hắn đã phát tán Con Dê. Thứ nằm trong tủ lạnh là vi khuẩn thật. Nhưng câu chuyện của Madison thì cứ thay đổi xoành xoạch. Đầu tiên hắn khai vi khuẩn đã được phát tán, sau đó lại nói hắn có những kẻ đồng mưu đang cùng lên kế hoạch phát tán nó, rồi lại nói hắn đã gửi nó đi trong các gói hàng kèm theo bom không tỏa nhiệt, được hẹn giờ nổ vào một thời điểm nào đó trong tháng 11. Nhưng – theo những gì chúng tôi được biết qua các mẩu quảng cáo cụt lủn của DHS – họ càng tra khảo hắn thì càng thấy ít có khả năng những chuyện đó là thật. Con Dê dù sao cũng không thể sống được lâu nếu không chăm sóc. Và dựa trên lượng colloid và các chất cần thiết khác mà hắn đã mua thì đến ngày tiến hành vụ đột kích, hắn vẫn còn có đủ số vi khuẩn đã nuôi cấy. Ngoài ra, cờ Hiến tế cũng ủng hộ giả thuyết của DHS. Nghĩa là, các ván cờ – hai ván của tôi và một lô các quán khác của Tony và những người khác – tiên đoán rằng Con Dê chưa lọt ra ngoài và có thể là không bao giờ lọt được ra ngoài.
Và, liên quan đến ngày Chúa tể 4… hừ, chuyện này thì hơi kỳ quặc… đến lúc này, điều duy nhất Madison khai về việc vì sao hắn chọn ngày đó là "thiên hạ mê mẩn cái vụ 2012 ấy, tôi chỉ cho họ thứ họ muốn". Mặt khác, hắn không nói bất cứ điều gì liên quan đến Maya. Hoặc nếu có thì lũ ma mãnh kia cũng không cho chúng tôi biết. Tôi nhấp thêm một ngụm espresso. Hừ. Tôi đổ ít rượu rum vào tách, móc trong túi đeo hông ra một viên kẹo dẻo nhỏ, thả vào, khoắng tất cả lên và làm một ngụm nữa. Ngon rồi.
Tiên sư cái thằng Madison. Như thế này chưa đủ để hắn trở thành người vô dụng nhất mọi thời đại, vì tuy không đạt được mục tiêu lớn nhất nhưng hắn cũng cho tất cả chúng tôi – "tất cả" ở đây bao gồm hai hoặc tối đa là ba trăm người biết về Con Dê – vài ngày khó tiêu chỉ vì vắt nốt tí thành thật từ người hắn nếu còn. Đồ chuột bọ.
Thôi, ít nhất thì họ cũng tóm được hắn, - tôi nghĩ, không biết là lần thứ bao nhiêu. Vì tôi là "tôi" nên tôi vẫn kinh ngạc trước sự tình làm sao mà chính phủ, hay đúng hơn là hai chính phủ - những kẻ mà người ta hiển nhiên coi là hầu như làm gì cũng sai – lại làm ăn khá khẩm thế. Tuy họ cũng chẳng thể tìm thấy hắn nếu không có chúng tôi. Mặt khác, họ nói rằng vụ Madison phải được giữ bí mật – có lẽ là vĩnh viễn – để tránh nảy sinh những vụ tương tự. Trái với tính cách thường ngày, tôi gần như tán thành việc này. Hay chí ít tôi cũng muốn suy nghĩ trước khi loan báo bất cứ chuyện gì. Hiển nhiên, nếu họ muốn giữ bí mật chuyện đó thì cũng có thể họ sẽ khử tất cả chúng tôi, nghĩa là tất cả những ai biết về Madison và những việc liên quan. Chân lý lâu đời về sự hoang tưởng là hoang tưởng không có nghĩa rằng điều đó không xảy ra, rằng họ không muốn tóm anh. Vì thế, đương nhiên tôi muốn rời khỏi Stake một thời gian. Có lẽ tôi sẽ sử dụng nhân dạng của Martin Cruz trong một thời gian, sau đó sẽ chuyển sang dùng một trong những nhân dạng khác của Jed… hừm. Tôi nhìn quanh. Không có ai.
Hừm.
Thật kỳ cục, sự thật là trái đất sẽ tiếp tục quay trong một thời gian nữa lại khiến tôi gần như vỡ mộng, sau tất cả…
- Chào anh, - tiếng của Marena.
Cô ta đội chiếc mũ kiểu cầu thủ bóng chày hiệu Magic, một mảnh vải che bên dưới và một mảnh che bên trên. Cô ta có phần bớt mảnh khảnh và trắng ra, nhưng khỏe khoắn hơn.
- Chào em, - tôi đáp giọng oang oang, hỏng cả cái ý định tỏ vẻ thờ ơ. Tôi đứng lên. Cô ta hôn tôi nhưng gần như hôn không khí.
- Nehmen Sie Platz (xin mời ngồi – tiếng Đức), - cô ta nói, - quý ngài Jed.
Tôi ngồi xuống. Cô ta cũng ngồi. Bên phía bàn cô ta có một hộp xì gà Cohiba Pyramides – tôi chưa tìm được vị Maximón nào ở đây – tôi kéo một chiếc ghế lại gần và đặt nó xuống đấy.
- Nhìn em khỏe nhỉ, - tôi nói, - khỏe hơn lúc trước.
- Cảm ơn anh.
- Ừ, - im lặng một lát. – Này, em muốn thử… À,… Kon-Tiki Zombie (Thây Ma Kon-Tiki, tên lóng của một loại đồ uống) không? Anh đoán nó là rượu cốc-tai đựng trong vỏ quả mít, với cái ô cắm bên trên và khối đá khô.
- Ý anh là người ta có thể dọn cho em món thây ma à?
- Hay là… Ờ…
- Xin chào, mừng các vị đến với Wet Lizard, - cô gái phục vụ bàn cắt ngang, - hôm nay chúng tôi giảm giá đặc biệt cho Mai Tai Bikini Atoll, pha bằng rượu rum dừa của quán…
Marena đưa tay chặn lại.
- Cho xin một chai Fiji và một ly Glen Moray. Cảm ơn.
Người phục vụ bàn quay đi.
- Max dạo này thế nào? – tôi hỏi.
- Nó bảo trường mới nghệ sĩ quá.
- Nghệ sĩ?
- Họ bắt lũ trẻ làm tiêu bản trái cây, làm hoa giả bằng quả thông và những thứ khỉ gió tương tự.
- Nghe như ở địa ngục ấy nhỉ.
- Phải, nhưng nó vẫn làm tốt. Nó gửi lời chào anh đấy.
- Chào lại nhé, Maximum.
- Của chị đây.
Cô gái phục vụ bàn đã quay trở lại với rượu whiskey và nước.
- À, em ăn bánh không? – tôi hỏi.
- Không, em không đói lắm, - Marena đáp.
- Anh cũng thế. Xin lỗi chúng tôi không dùng.
Cô gái phục vụ bàn quay đi. Marena nhìn xuống phố. Một chiếc BMW X1 SUV màu nâu sẫm đậu bên lề phải đường, không xa chiếc Econoline.
- Xe em đấy à? - tôi hỏi.
- Vâng, - cô ta quay lại nhìn tôi và ngã người vào thành ghế.
- Em không hút thuốc à?
- Không, từ hôm xảy ra vụ Madison.
- Tốt đấy.
- Nhưng em có kẹo nicotne. Anh ăn không?
- Ồ, không. Cảm ơn. Em ăn kẹo dẻo không?
- Anh biết đấy, em không muốn báo cho anh biết điều này, nhưng đa phần người ta không thích kẹo dẻo lắm. Ít ra là không ăn trực tiếp từ trong bao.
- Không á? Họ bán được cả tấn thứ này đấy.
- Đấy chỉ là để… thôi, đừng bân tâm.
- Em nghĩ…
- Vậy là anh vẫn… xin lỗi. Anh định nói gì à?
- Sao cơ? à, xin lỗi. Không có gì đâu.
- Không, anh cứ nói đi.
- Không, anh không định nói gì cả. Em định hỏi gì à?
- Chỉ là, anh vẫn làm việc ở đó chứ?
- Ừ, vẫn, - tôi đáp, - anh chỉ đang nghỉ ngơi một thời gian thôi.
- Này, em biết nó không hẳn là kỳ quan gì, nhưng nếu anh có thể đến xem cái này thì cũng hay lắm.
- Ở Stake à?
- Phải. Ở khu liên hợp thể thao Olympic. Không có gì đặc biệt đâu, chỉ là Lindsay tổ chức cắt băng khánh thành Hyperbowl.
- Thế à? Đã hoàn thành rồi kia à?
- Chưa, nhưng họ đang quay vài thước phim gì đó cho ủy ban Olympic Quốc Tế nên em đoán ông ta muốn phô trương thêm một tý.
- Ừ, anh sẽ sớm về xem, - tôi đáp. Hừm. Cô ta thực sự muốn mình về Stake à? Nghĩa là cô ta muốn mình cùng về để tiếp tục hẹn hò? Hay chỉ để họ canh chừng mình? Cuộc nói chuyện này có gì đó không ổn. Có sự lúng túng ngần ngại gì đó. Có lẽ mình nên đồng ý theo cô ta về. Chỉ có điều, nếu cô ta thật sự muốn mình như thế, cô ta sẽ khều chân mình dưới gầm bàn hay gì đó. Có phải vậy không? Mẹ kiếp, chẳng khác gì hồi còn học tiểu học, với cái đống rắc rối về các loại quan hệ. Đó là lý do vì sao tôi lại ghét chuyện giữa hai ng…
- Ngoài ra, anh biết đấy, Lindsay đang tác động để họ rút binh lính khỏi Ix, - cô ta nói, - như vậy họ sẽ sớm mở cửa cho chúng ta quay lại, thậm chí một cách hợp pháp.
- Thế à? Ngay cả khi chiến tranh với Belize vẫn tiếp tục?
Theo CNN, đến sáng nay, họ vẫn tiếp tục nã pháo vào nhau qua sông Sarstún.
- Larry nói với em thế, - cô ta đáp. – Cũng phải thôi, giờ chúng ta đang là người hùng mà.
- Ừ, dĩ nhiên anh sẽ có mặt ở đó.
- Vậy thì tốt quá.
Tôi uống xong tách cà phê tự pha chế. Tôi xoay người trên ghế và nhìn quanh. Marena cũng xoay người trên ghế và nhìn quanh. Tiếng sủa nghe quen quen của một con chó vọng đến từ đâu đó. Ngày trở nên nồm nực và ngột ngạt.
- Vậy anh có dự định gì chưa? – cô ta hỏi. – Về lâu đài ấy?
- Anh chưa biết. Hôm nay anh mua bán thêm vài hợp đồng ngô giao sau. Anh còn phải qua bài sát hạch môn cờ vây và kiếm thêm hai tỉ đô la.
- Còn việc tham gia vào ngành du hành xuyên thời gian thì sao?
- À, anh nghĩ anh sẽ chờ thêm một thời gian, như vậy anh có thể sớm tham gia hơn.
- Vâng, phải đấy.
- Ừ, nhưng em biết đấy, nếu chuyện đó sẽ xảy ra thì bây giờ chúng ta đã biết rồi.
- Nghĩa là sao?
- Nếu có bất kỳ chuyến du hành xuyên thời gian nào đáng kể, vào bất kỳ thời điểm nào trong tương lai, thì bây giờ đã có những vị khách từ tương lai xuất hiện ở đây và chúng ta đã biết.
- Có lẽ chỉ vì nó quá đắt đỏ chăng?
- Ừ, nhưng em biết đấy, TV cũng từng là thứ đắt đỏ. Việc tạo ra một hố giun có thể đắt đỏ ngày hôm nay, nhưng hai mươi năm sau, nó sẽ rẻ đi và mọi người điều muốn thử. Công nghệ phổ cập dần mà.
- Ờ… có lẽ… có lẽ họ đã đến rồi, nhưng họ không được phép cho ai biết điều đó.
- Sao lại không? Chẳng tốt hơn ư nếu họ có thể bảo cho chúng ta biết nên coi chừng điều gì?
- Nhưng Taro đã nói, anh biết đấy… ông ta chưa giải thích rằng anh không thể làm những việc như thế vì… vì vấn đề ông chú gì đó à?
- Nghịch lý ông nội.
- Phải rồi.
- à, có, ông ta có nói, - tôi đáp. – Nhưng em biết đấy, càng đi xa về quá khứ thì vấn đề đó lại càng ít gây trở ngại. Vì thế, những người ở cách chúng ta rất, rất xa về mặt thời gian, họ có thể quay về đây mà không gặp mấy rắc rối.
- Có lẽ, việc chiếm dụng bộ óc của người khác là bất hợp pháp trong tương lai. Vì nó căn bản là tội giết người mà, phải không?
- Cố nhiên, nhưng anh không nghĩ… ý anh là, ngay cả khi có luật cấm hoàn toàn việc đi ngược thời gian và tẩy não người khác, ngay cả khi nó bị coi là tội giết người thì những chuyện đó cũng không bao giờ cản được người ta. Đúng không nào? Nhất là khi đằng nào họ cũng nằm ngoài tầm với của pháp luật. Họ sẽ ở quá khứ mà.
- Em cũng đoán thế, - Marena đáp. Cô ta dốc nửa ly Scotch vào miệng. Tôi bắt đầu để ý thấy tiếng còi xe. Tôi tự hỏi không biết nếu đấy là tiếng chim thì người ta có thấy nó hay hơn không. Chắc là không.
- Hoặc họ chỉ cần chiếm bộ óc của những người sắp chết, rồi giúp gia đình họ… không, anh không nghĩ vấn đề nằm ở chỗ họ không có cách xoay sở.
- Vậy anh vẫn nghĩ họ không đến đây vì không có tương lai?
- Ờ… anh không biết nữa.
Cô ta hớp một ngụm Fiji. Không ai nói gì một lúc lâu.
- Xin lỗi, em đang nghĩ đến Max à?
- Phải.
- Chắc phải có một cách giải thích khác hợp lý hơn. Có thể lắm. Anh xin lỗi.
- Không, em xin lỗi, - cô ta đáp, - em hơi quá đà về vấn đề con cái.
- Thế là tốt mà. Điều đó đáng tự hào.
- Anh biết đấy, - cô ta nói, - khi anh có một đứa con thì nó là vô giá. Nếu ai đó… như người ngoài hành tinh hay Chúa trời chẳng hạn… đến nói với anh rằng: "này, nếu ngươi trao đứa con cho ta, ta sẽ chữa khỏi bệnh ung thư, sẽ cho tất cả cuộc sống vĩnh cửu, sẽ xóa hết mọi đau khổ trên đời", thì anh cũng sẽ trả lời rằng "không, cảm ơn".
- Phải, - tôi đáp.
- Đó là sự thay đổi về mặt hóa học. Anh sẽ trở thành một phương thức hỗ trợ sự sống cho đứa con.
- Như vậy cũng tốt, - tôi nói. – Dù sao anh cũng rất tiếc đã nhắc đến chuyện ấy.
- Không, không sao đâu, - Marena đáp. Cô ta đã uống cạn ly Glen Moray.
- Có lẽ một ván cờ Hiến tế theo đúng kiểu cổ xưa sẽ cho chúng ta manh mối về việc đó, - tôi nói.
- Phải. Nhắc đến chuyện này, vẫn còn nhiều việc phải dùng đến cờ Hiến tế. Phải không? Madison không phải là kẻ cuối cùng tin vào ngày tận thế.
- Đúng vậy.
- Anh cần tiếp tục nghiên cứu nó. Giống như trong câu chuyện của Philip Dick, với Cục ngăn ngừa tội phạm.
- Bắt buộc à?
- Ờ… em biết bây giờ em không phải sếp của anh. Nhưng ý em là, anh biết đấy, anh giống như James Bond ấy, chỉ có điều không phải rời khỏi văn phòng.
- Cảm ơn.
- Xin lỗi.
- Không sao, anh chỉ muốn nói rằng… em cũng biết mà, anh không còn là người duy nhất, - tôi nói, - ý anh là, anh nghĩ Tony và những người khác, họ tiến bộ nhiều lắm… nên em biết đấy, họ có thể lo việc ấy.
- À há.
- Cả LEON cũng tiến bộ, - tôi nói tiếp, - vài năm nữa cổ máy đó có thể tự vận hành. Chúng ta thậm chí sẽ chẳng biết nó đang làm gì, ý anh là nó sẽ trở nên phức tạp đến mức con người không thể kiểm soát nổi.
- Vậy ra chúng ta chỉ cần trông cậy vào LEON?
- À, đó lại là vấn đề khác.
Tôi nhìn quanh. Nắng bắt đầu gay gắt. Trong một con hẻm nào đó ngoài kia, có kẻ đang nôn mửa ầm ĩ.
- Thành phố này hơi nhàm chán với một người cừ khôi như em nhỉ? -tôi hỏi.
- Ừ, nó cũng làm anh phát ngấy sau một thời gian, phải vậy không?
- Sau mười giây.
- Vậy sao anh còn ở đây?
- Anh không giỏi giang gì.
Im lặng. Tiếng nôn cũng im dần.
- Này, - Marena nói, - em muốn gặp riêng anh vì em vừa phát hiện ra vài điều không hay lắm và anh sẽ nổi giận.
- Không sao đâu, em đừng lo chuyện đó.
- Nhưng anh có quyền nổi giận. Anh đã bị lừa một cú thật sự.
- Như thế nào? Cá là anh sắp bị bắt.
- Không, không phải thế… anh nghe đây, anh biết cái… cái nón thuốc tạo chớp máu ấy, nó có hai thành phần và một trong số đó là thành phần khiến người ta mất cảm giác về không gian, thứ có tên nghe như kem bôi sau khi cạo râu ấy?
- Người Chèo Xuồng Già.
- Phải, em đã tìm hiểu một chút về nó.
- Ừ?
- Và… và… người của phòng thí nghiệm Lotos không… ý em là người ta đã nói với cả anh và em những điều khác với sự thật.
- Là điều gì?
- Nó không chỉ là một hóa chất.
- Vậy nó là gì?
- Ký sinh trùng.
Im lặng.
- Xin lỗi, em nói gì cơ?
- Nó là một sinh vật, nó tạo ra một hoạt chất k*ch th*ch thần kinh nào đó… tương tự như bệnh của loài sên bị nhiễm ký sinh trùng trong mắt ấy, anh biết đấy, chúng khiến cho những con sên leo cao lên chỗ dễ bị chim ăn thịt.
- Trùng Leucochloridium.
- Đúng rồi. Hoặc như… anh cũng biết đấy… như thứ khiến cho con chuột hết sợ mèo
- Toxoplasmosis,
- Đúng rồi. Đó là lý do vì sao thứ thuốc ấy phải ở dạng lỏng, thực ra là có những sinh vật bé xíu bơi trong đó.
- À… ra thế, - tôi đáp. Tôi hơi chóng mặt một tí nhưng chắc là không run ra mặt.
- Và đó cũng là lý do vì sao họ mất nhiều thời gian đến thế, họ phải tạo ra chúng bằng cách nhân bản vô tính từ thứ gì đó.
- Được rồi, này, chúng… Ờ… chính xác thì chúng là thứ gì?
- Những con vật ấy á?
- Ừ, chúng là sán lá, hay sinh vật đơn bào, hay…
- Em không biết.
Cô ta nhìn vào mắt tôi. Tôi nhìn lại. Cô ta cuối xuống.
- Sao họ không tách hoạt chất đó ra và cho ta uống phần đó thôi?
- Em không biết, - cô ta đáp. – Em đoán là việc đó sẽ mất quá nhiều thời gian, hoặc họ không xác định được nó gồm những chất gì, hoặc nó phải được kết hợp với các chất truyền dẫn thần kinh ở người, hoặc… em cũng không biết nữa. Anh thạo những vấn đề kiểu này hơn mà…
- Được rồi, vậy triệu chứng chúng gây ra là gì? Vòng đời của chúng thế nào? Tác hại tức thời và lâu dài như thế nào? Dự đoán…
- Họ nói đang nghiên cứu phương pháp chữa trị.
- Chữa trị hay điều trị tạm thời? Bện sốt rét còn chưa có cách chữa trị nữa là.
- Có lẽ chỉ là điều trị tạm thời thôi.
- Chết tiệt.
- Nếu anh có thể kiềm chế cơn giận… em không biết anh muốn làm gì, nhưng em sợ anh sẽ cố tra hỏi Lisuarte hay gì đó.
- Gợi ý hay đấy.
- Nếu anh có thể kiềm chế, ngay khi về đến đó – ý cô ta là Stake – em sẽ tìm hiểu mọi điều có thể và gọi cho anh…
- Em sẽ làm họ lo lắng đấy.
- Không đâu. Cứ tin em.
- Thế Ashley 2 và những người khác cùng uống thuốc thì sao?
- Em không biết. Em sẽ tìm hiểu. Chúng ta sẽ tìm hiểu và thu thập mọi bằng chứng có thể, và em sẽ mang nó đến chỗ Lindsay, em chắc ông ta không biết chuyện này vì lũ người kia đang cố bưng bít ông ta, sau đó, anh và em sẽ cùng giải quyết việc này. Nhưng em vẫn thấy thực sự có lỗi.
- Đừng xin lỗi. Chúng ta sẽ giải quyết được thôi.
Chết tiệt, chết tiệt, chết tiệt, - tôi nghĩ thầm, - mình bị lừa một vố nặng quá thể. Chúng thực sự cho mình một cú, đám… đám người ấy… mình sẽ… sẽ.
- Xin lỗi anh.
- Không sao đâu.
Im lặng.
- Nhưng nhìn anh vẫn khỏe lắm, - Marena nhận xét. Câu nói kết thúc với một nốt trầm ở cuối nghe như bị buông lửng.
- Em phải đi à?
- Vâng, em chắc họ đổ đầy xăng cho xe em rồi.
Bình tĩnh nào, - tôi tự nhủ - quên chuyện này đi. Đừng biến mình thành thằng ngớ ngẩn. Cô ta đang bận. Cô ta có việc phải làm. Cô ta có đứa con. Cô ta có cả một đế chế để cai trị. Cô ta phải rán diều và thả cá. Cô ta là người quan trọng. Cô ta kín lịch rồi. Cô ta sống sành điệu mà.
- Này , anh có chắc là anh không sao không? – Marena hỏi.
- Anh ổn mà, - tôi đáp, - anh có thể đứng lên và đi khỏi đây bất kỳ lúc nào.
- Hài hước đấy.
Như người ta có thể đoán trước, lại thêm một vài phút im lặng lúng túng. Tôi đang ngửi thấy mùi bãi nôn ở ngoài đường bay vào hay chỉ là tưởng tượng?
- Anh thấy hơi khó xử, - tôi nói.
- Em xin lỗi, - cô ta nói và nhìn xuống mặt foóc-mi-ca xanh của chiếc bàn.
- Không sao đâu.
Chết tiệt, Jed. Mày cứ việc ngả người về phía cô ta, duỗi chân ra mà bảo cô ta rằng "Cứ nói toẹt ra đi". Mày đúng là thằng hèn. Thằng ngố, thằng đần…
- Thế này, - Marena nói, - còn một việc nữa. Em không định nói ngay lúc này, nhưng em nên cho anh biết là em đang nghĩ đến chuyện kết hôn. Tái hôn.
Im lặng.
- Hẳn là ai đó khác chứ không phải anh.
- À, vâng. Vâng. Anh không biết anh ấy. Đó là một người hàng xóm ở Woody Creek.
- Hừ. À, à… chúc mừng em.
- Đừng nói thế. Anh nghe này, anh biết đấy… em nghĩ… vấn đề là… em nghĩ chuyện giữa anh và em rất tuyệt. Nhưng em không nghĩ anh là người thích ổn định. Phải thế không?
- Ờ… Ừm… không, anh ổn định… ý anh là anh không phải là người thích ổn định, không đâu.
- Phụ nữ cần cuộc sống ổn định, - cô ta nói. – Em biết điều này kỳ quặc nhưng nó là một giai đoạn của cuộc sống. Thì con gái rất ngắn ngủi và cái ngày tận thế kia chỉ làm nó thêm… ý em là, phụ nữ cần điều ngu xuẩn ấy… anh biết đấy, họ chẳng quan tâm gã lấy mình là ai, miễn sao hắn mặc quần đùi kaki và… và quan tâm huấn luyện đội bóng của Max, thức ban ngày và ngủ ban đêm… và tẻ nhạt… dù sao, anh hiểu tất cả những chuyện này mà.
- Tẻ nhạt là hay à?
- Phải, với phụ nữ ở một độ tuổi nhất định, đàn ông tẻ nhạt là điều tốt.
- Ừ.
Ngu xuẩn làm sao, tôi thấy người nhẹ bẫng một cách khó chịu. Và có lẽ vì việc của Marena nhiều hơn là vì chuyện của tôi vừa biến thành một vật chủ nuôi ký sinh trùng.
- Dù sao… anh cứ rời khỏi nơi này và chúng ta sẽ nói chuyện khi nào có thời gian. Được không?
- Ừ.
- Anh ổn không?
- Anh ổn mà.
- Rồi , em phải đi đây. Em thề sẽ xử lý tốt việc này. Gọi điện cho em nhé.
- Anh sẽ gọi.
- Mai nhé. Em nói thật đấy.
Cô ta đứng lên.
- Anh sẽ gọi.
Tôi đứng lên.
Cô ta hôn tôi lần nữa. Tôi hôn lại, không nhiệt tình lắm. Cô ta quay đi và bước vào trong quán. Tôi nhìn qua ban công.
Quỷ tha ma bắt thật, -tôi nghĩ.
Chuyện là, khi mới gặp Marena, tôi nghĩ cô ta đến từ một hành tinh nào đó trong lành hơn và tốt đẹp hơn, gần với cái tâm tưởng tượng sáng lấp lánh của vũ trụ. C̣n tôi th́ "thôi đừng có mơ tưởng hảo huyền đi Jed, cả tỉ tỉ năm nữa mày cũng không bằng được đâu". Rồi sau đó tôi lại thấy, dưới cái vẻ ngoài hào nhoáng, hóa ra cô ta hơi có phần giống tôi, và chúng tôi đâm ra hợp nhau, mọi sự hững hờ điều là đóng kịch. Nhưng bây giờ, khi cô ta quay lại với thái độ hờ hững thì tôi lại nghĩ có khi sự hòa hợp mới là đóng kịch. Hoặc cả hai điều là đóng kịch và cô ta chỉ diễn sự hòa hợp trong những màn đặc biệt và bắt buộc. Đồ phù thủy. Mày cần… A, cô ta kia rồi.
Cô ta đã ra đến cửa dưới tầng một, cách chân tôi hai mươi feet, và đi bộ ra đường Fort. Cô ta không buồn ngoái nhìn lên đây. Ấy không, có, cô ta có nhìn. Cô ta vẫy tay. Cô ta quay đi và chui vào ghế sau chiếc X1. Chiếc xe chạy đi. Tôi ngồi lại xuống chiếc ghế bé tẹo và bất tiện.
Hừ, cái thứ này… bất tiện đến không thể chịu nổi – tôi nghĩ.
Bướm đêm thì được.
Mẹ kiếp.
Tôi bắt đầu nhớ lại -một cách ngu xuẩn, quá quắt nhưng không thể xua đi được – lúc tôi ngồi đọc sách còn Marena thì nằm ngủ. Chuyện xảy ra sau vụ rắc rối với chiếc Hippo và trước khi chúng tôi đi khai quật những viên đá nam châm xếp hình chữ thập. Trong giấc mơ, con ngườicô ta động đậy dưới mí mắt. Cửa sổ đang mở và một con bướm ma khá to bay vào trong phòng, lượn quanh màn hình điện thoại của tôi rồi đậu lên trán cô ta.
- Nhện, - cô ta kêu lên, không buồn tỉnh dậy nhưng hơi hoảng hốt, - xua nó đi.
- Chỉ là một con bướm đêm hiền lành thôi mà, - tôi thì thào vào tai của cô ta.
- À , - cô ta nó bằng cái giọng lơ mơ như đứa bé gái đang ngái ngủ, - bướm đêm thì được. Hiền lành thôi.
Cô ta giở mình về phía tôi, tôi có cảm giác như mình có một đứa con gái nhỏ, một người hoàn toàn tin cậy mình...
Mẹ kiếp.
Mày được nếm vài lần thân mật, và khi mọi sự quay trở lại với cuộc sống bẩn thỉu đời thường, mày lại khổ sở vì không thấy sự thân mật ấy nữa, và lại cố tìm kiếm, và lại để cái vòng ấy lặp đi lặp lại, hết lần này đến lần khác mà chẳng rút ra được điều gì. Trên đời có hai thứ là "thân mật" và "lạnh nhạt", và giữa chúng có một khoảng cách lớn vĩnh viễn không bao giờ xóa nhòa được, và mày thì cứ… Chết tiệt. Mày biết hết về con người đó, biết cô ta lên đến đỉnh thế nào, biết cô ta ngủ như thế nào, nhưng đến sáng ra, cả hai lại chỉ là một cặp cùng qua đêm bẩn thỉu, và mày ghét bản thân, ghét cả hai vì điều đó. Mày là thằng ủy mị. Mày còn muốn gì nữa nào? Mày muốn đi cùng cô ta về phía mặt trời lặn trong chiếc xe màu hạt dẻ ấy à? Đây chỉ là một vở kịch diễn chín đêm thôi. Hay tám?
Có lẽ mình nên quay về đấy, - tôi nghĩ. Biết đâu cả hai sẽ quay về nếp sống cũ. Làm hai kẻ đồng nghiệp xấu xí, nhàn rỗi và xa lánh thiên hạ. Một ngày nào đó mày sẽ lại như xưa. Chẳng có chuyện gì ghê gớm cả. Thời gian này mọi chuyện chỉ hơi đảo lộn một chút thôi, cô ta sẽ tống cổ cái gã Woody…
Chẳng có chuyện ấy đâu. Đừng tự lừa dối mình. Cô ta chỉ làm thế để mày dốc sức ra mà làm việc thôi. Hãy xung phong nhận nhiệm vụ tự sát này đi và anh sẽ được hưởng đêm cuối cùng trước khi lên đường với hoa hậu Seoul. Mày chẳng qua là thằng nô lệ.
Và điều tồi tệ nhất trong chuyện này là nó diễn ra như một lẽ tất yếu. Một tí vui vẻ ngu xuẩn, những cảm xúc ngu xuẩn và cuộc nói chuyện cuối cùng, lúng túng nhưng không thể tránh được. Tất cả đều xưa như trái đất và chẳng có gì đặc biệt. Mày còn tệ hơn cả một thằng hư hỏng, tâm thần không ổn định và bán tự kỷ. Mày là kẻ tầm thường. Dù có tài giỏi hay không tài giỏi. Có tiền hay không có tiền. Biết chơi hay không biết chơi cờ Hiến tế.
Vả lại, khi mày chơi cờ Hiến tế, có phải mày chơi đâu. Nó chơi mày thì có. Cũng như cô ta. Cũng như kẻ khác.
Thằng bất tài.
Tôi bỏ mũ ra và lau mồ hôi dính trên nẹp. Những cơn gió plasma lạnh ngắt từ ngoài vũ trụ thổi qua đầu tôi. Hừ, có khi mày chỉ đáng được thế thôi, - tôi nghĩ. Mày thậm chí chẳng giỏi giang gì với món cờ Hiến tế. Mày còn chẳng chơi được với chín quân cờ, ngay cả với sự hỗ trợ của máy tính có bộ não to bằng tinh văn Orion. Mày thậm chí còn chẳng chơi hết được một ván với tám quân cờ.
Tôi lại chụp mũ lên đầu.
Mẹ kiếp.
Mà ruốt cuộc nó là cái khỉ gì cơ chứ?
Hừ.
Chỉ là một trò chơi thôi mà, - tôi nghĩ. Nửa giờ đồng hồ. Chỉ việc tìm ra vị trí cuối cùng. Có gì to tát đâu. Mình có thể dừng bất kỳ lúc nào nếu không thích nữa. Cố lên, hãy đặt mục tiêu cao hơn một chút. Tôi dứt hai mẩu thuốc lá đựng trong chiếc túi nhỏ bên túi đeo hông bên kia và cho vào miệng, nhai nát thành một miếng lớn. Xong. Tôi đứng dậy, đi vào trong quán, qua một quầy bar huyên náo ở tầng hai, xuống cầu thang, vào phòng vệ sinh – trên cánh cửa có dòng chữ DÀNH CHO NHỮNG THẰNG HƯ HỎNG – và tiêm vào người một trong bốn ống thuốc mà tôi dành dụm được. Tôi nhè miếng bả thuốc ra. Giời ơi, mình tởm quá, - tôi nghĩ. Cái thói quen ngu xuẩn này. Chỉ có bọn nhà quê mới nhai thuốc lá. Tôi bôi nước thuốc vào vết thâm trên đùi, đứng thẳng dậy, vuốt nước lên mặt và quay về bàn.
Tôi mở điện thoại. Bức bích họa của thành Ix vẫn ở đó. Khỉ thật. Cái gì thế kia nhỉ? Sên à? Rết à? Hay cả hai? Hay chẳng phải con nào hết. Hừ, Mặc xác. Tôi chữ CỜ HIẾN TẾ. Bàn cờ hiện ra. Để không có cảm giác bị phụ thuộc, tôi ngắt kết nối internet. Đằng nào tôi cũng không cần đến nó lần này. Tôi đã nắm khá rõ chuyện gì đang xảy ra ngoài kia. Tôi rõ các thông tin như trong lòng bàn tay. Quá nhiều thông tin. Cái khó là làm sao để xác định được sức mạnh tương quan giữa các thông tin với nhau. Chẳng hạn như "có một con ong bắp cày bậu trên thành ly rượu rum của tôi" và "Vũ trụ chứa 4 x 1029 nguyên tử" đều là thông tin cả, nhưng một cái quan trọng hơn hẳn là cái kia, tuy tôi không khẳng định là cái quan trọng hơn là cái nào.
Tôi bắt đầu cảm thấy những cơn rung xuất phát từ đùi trái, lan xuống bàn chân và lên háng.
- Đây là lúc đốt ruộng, là lúc dọn quang, - tôi lầm rầm. Tôi không cần đi đến vị trí cuối cùng trong ván chơi trước, ván giúp tôi tìm ra Madison, Tôi thậm chí không chắc vì sao tôi muốn quay lại chơi nốt ván đó, có điều, người ta luôn muốn thử chơi lại nước quyết định để xem rốt cuộc ai thắng. Bất kể anh chán vở kịch đến đâu, anh vẫn nán lại rạp hát chỉ để xem nó kết thúc thế nào.
- Con xin mượn hơi thở của ngày hôm nay, La hun Kawak, ka Wo, Bảo Lốc 10, Cóc 2, mặt trời thứ mười chín của unial thứ năm, tun thứ mười chín,ka’tun thứ mười chín của b’ak’tun mười ba.
Tôi di chuyển quân cờ thứ mười tám lên phía trước, đến ngày Chúa tể 4, leo qua hai sườn dốc phía tây của quả núi bị xói mòn phủ đầy bụi đỏ xám, tìm lên cửa hang trên cao, nơi có những tiếng hú hét vang vọng.
71
Một trong những tác dụng đặt biệt của những món m* t** dùng trong cờ Hiến tế là dường như chúng tạo ra một vùng riêng biệt trong não anh. Anh có thể bỏ dở ván chơi và làm những công việc bình thường trong vài ngày hoặc vài tuần mà không hề cảm thấy đầu óc bị ám ảnh về ván chơi, nhưng ngay khi anh dùng tiếp một liều nữa, anh sẽ lập tức quay lại đúng chỗ đã dừng lần trước và tiếp tục chơi mà không cần định lại phương hướng. Tôi đoán nó không khác lắm cái cảm giác mỗi tuần xem một phần mới của một chương trình truyền hình, hay đọc tiếp một cuốn sách đang đọc dở, hay chơi trò Warcraft trên điện thoại di động, chỉ có điều nó phụ thuộc vào bản thân anh nhiều hơn và mọi thứ cảm giác đều mạnh hơn. Tóm lại, tuy tôi biết mình vẫn đang ngồi bên chiếc bàn lung lay trên một ban công ở thành phố Belize, nhưng khi tập trung nhìn vào bàn cờ, tôi lại có cảm giác đang ở đúng nơi tôi đã tìm ra Madison, trên sườn tây quả núi sụt lở, và không cần cố gắng lắm, tôi cũng hình dung ra hơi nóng của mặt trời già cỗi sau lưng và nghe thấy tiếng ào ào của những cơn mây bụi màu đỏ gạch đang cuộn lên khắp xung quanh; và tôi càng di chuyển quân cờ thứ tám về phía trước, mọi thứ càng trở nên sáng sủa và tôi gần như cảm nhận được sỏi đá dưới chân cũng như ngửi thấy mùi xương cháy trong gió. Đúng đường này rồi – tôi nghĩ. Tôi tiếp tục đi. Đường kia. Tôi leo cao mãi, qua đám mây bụi, lên đến tầng mây hơi nước, rồi vượt qua các đám mây tro. Tôi loạng choạng. Các bậc cầu thang đã cũ đi nhiều so với lần trước tôi đi qua, chúng rạn nứt và lồi lõm đến mức khó lòng mà đứng vững được, nhưng với cảm giác thăng bằng như bò bằng tứ chỉ, rồi cứ liên tiếp lên các bậc thang núi lở, ra khỏi đám bụi, qua những đám mây bụi nước đóng băng, bước vào một vùng lạnh cóng ngay dưới vòm trời. Tiếng gào rít ầm ĩ hơn lúc trước. Tảng đả đã biến mất. Tôi ngẩng đầu lên quan sát phía đông một giây, thử nhìn xem có thấy các thế giới mới sắp đến, nhưng chúng vẫn bị che khuất sau trái núi lừng lững nên tôi lại cúi xuống. Lòng hang trước mặt tôi đã mở rộng hơn so với ngày Chó 12, Rắn cạn 16, và khi tôi lần đường chui xuống, đá mới vỡ vụn ra khắp xung quanh, tôi càng xuống sâu thì khe nứt càng mở rộng và tôi thấy nó quá sâu đối với quân cờ số tám. Tiếp tục đi, - tôi tự nhủ, - không sao đâu.
Tôi đặt quân cờ thứ chín xuống bàn. Lòng vực mở rộng thêm và tôi khẳng định rằng nó lớn hơn bất kỳ cái hang nào trên trái đất. Cảm giác có lẽ sẽ giống như leo dây từ trên đỉnh một sông băng methane dựng đứng xuống một khe vực rộng hàng dặm trong lòng một mặt trăng vệ tinh Sao Thổ. Tuy nhiên, viên đá thứ chín có mối liên kết chặt chẽ với viên thứ tám và tôi cứ thế bò sâu xuống mãi, hướng đến trung tâm quả địa cầu, tiến vào cơn lốc xoáy gầm rít. Các sinh vậy bay lượn xung quanh nhưng không hề chạm vào người tôi, hệt như lũ dơi bay sạt qua anh khi anh đứng trước một cửa hang lúc mặt trời lặn. Anh ngửi thấy mùi phân chua chua của chúng, cảm thấy rõ không khí tạt vào người, nghe thấy tiếng cánh vỗ dồn dập những lặng lẽ như một cơn lốc cuốn theo những mảnh vải da, và lần nào cũng vậy, chúng chỉ bay sượt qua người anh… nhưng những sinh vật quanh tôi to lớn hơn dơi, chậm chạp hơn, và có vẻ… hiền lành hơn, tôi đoán thế, chúng không có cánh và dĩ nhiên lũ dơi luôn lặng lẽ, ít ra là với con người chúng ta, còn những sinh vật này thì huyên náo đến điếc tai. Có lẽ đây chính là nơi Dante phát điên khi ông ta tưởng tưởng ra cảnh những kẻ đam mê nh*c d*c bị đày đọa trong cơn cuồng phong dưới địa ngục. Khi cặp mắt bên trong tôi quen với bóng tối lờ mờ, tôi bắt đầu thất rõ hơn các sinh vật lạ, tuy không phân biệt rõ được từng con nhưng tôi nhận thấy những chuyển động giống như của các sinh vật biển, chỉ có điều không phải sư tử biển. Chúng giống những con cá voi trắng với cái trán tròn lồi ra phía trước và làn da trắng căng nhẵn… nhưng cái gáy ụ lên lại khiến chúng nom giống những thằng gù hoặc thằng lùn với cơ thể ngắn tũn và cái đầu to kềnh… nhưng chúng lại có cái đuôi ngắn và mập mạp và những cái chồi sơ khai nhú ra thay cho tay – giống con nòng nọc mới hóa thành cóc chăng? – nhưng chúng lại có tai, và những quả tim đang đập rõ ràng dưới lớp da trong suốt, những con mắt lồi chuyển động qua lại dưới mí nhắm chặt, hệt như…
Phôi phai.
Chúng là các a’nan, dòng giống của loài người, linh hồn của những người chưa ra đời.
Chả trách chúng đông đến hàng tỉ tỉ, gần như vô tận. Tòan bộ cư dân tương lại của loài người đều ở đây, tất cả đàn ông và đàn bà, những người sẽ được sinh ra sau ngày Chúa tể 4 và hẳn sẽ bao giờ được sinh ra nếu tảng đá kia rơi và lấp kín miệng hang. Khi mặt trời của b’ak’tun chạm tới thiên đỉnh vào ngày Chúa tể 4, nó sẽ rọi thẳng qua khe vực xuống lòng hang và chiếu sáng các a’nan. Không khí trong hang sẽ nóng lên, nở ra, cuốn chúng lên cao, ra khỏi hang và tỏa đi khắp trái đất. Tôi nhớ lại những điều Jed 2 thuật lời công nương Koh rằng con người trên tầng thứ không có ba cái hang: Hang của Người Chết nằm ở đầu bên kia thế giới, ở hướng tây, Hang của Người Đang Hít Thở đương nhiên chính là nơi mà chúng ta gọi là thế giới và cuối cùng là đây: Hang của Những Người Chưa Ra Đời.
Tôi quan sát. Tôi nghe ngóng. Đột nhiên, tôi nhận ra một điều: chúng đang hạnh phúc.
Những cái bóng của ý thức con người sắp thành hình đang chơi đùa. Hay nói theo lối các cụ ngày xưa thì chúng đang hội hè đình đám. Chúng bay lượn thành từng bầy, rượt đuổi nhau như rái cá. Chúng lắc hông như các vũ công nhảy điệu disco những năm 70. Chúng quay tròn, quay tròn trong niềm hân hoan bất tận.
Dần dần, đôi tai trong tiềm thức của tôi cũng quen với các tiếng động xung quanh và bắt đầu hiểu những tiếng tru tréo lọan xạ. Trước tiên, tôi nhận ra không phải chúng gào lên với nhau mà là với tôi, với chính tôi, bằng thứ ngôn ngữ sơ khai mà chỉ có những đứa trẻ sơ sinh mới hiểu. Và lúc này, tôi đã nghe rõ chúng nói gì:
HÃY ĐỂ CHÚNG TÔI Ở LẠI ĐÂY
NGÀI! CON MA RÓC XƯƠNG!
XIN HÃY CHO CHÚNG TÔI Ở LẠI ĐÂY!
CHÚNG TÔI KHÔNG MUỐN ĐI!
CHÚNG TÔI KHÔNG MUỐN SỐNG DƯỚI ÁNH MẶT TRỜI!
HÃY CHE CHÚNG TÔI LẠI!
HÃY ĐẨY TẢNG ĐÁ XUỐNG!
HÃY CHE CHỞ CHÚNG TÔI!
HÃY GIẤU CHÚNG TÔI ĐI!
ĐẨY TẢNG ĐÁ XUỐNG ĐI!
Không một sinh vật nào muốn ra đời cả.
Nhưng tôi cũng không thể ở lại đây lâu hơn nữa. Đến một lúc nào đó, anh buộc phải tiếp tục chuyển quân, ngay cả khi chơi một mình, và tôi cảm giác như quân cờ thứ chín đang muốn bứt mình khỏi rìa ô cờ mà nó đang đứng. Tôi di chuyển bốn bước dọc theo trụcgiữa bàn cờ màu lục – lam, qua nhiều năm trên con đường gồ ghề, ra khỏi cái hang và bước ra ngời trời lạnh ngắt, đỏ dẫm như một con chó ra đám sương mù nhớp nháp. Tôi vẫn còn nghe thấy các a’nan kêu gào sau lưng, van vỉ tôi giúp họ không phải ra đời, tránh xa khỏi thế giới đầy khổ đau. Quân cờ cuối cùng của tôi leo cao mãi, cao mãi, đến khi gặp một khối ngọc bích bằng phẳng màu xanh lá cây, nhỏ bằng khoảngô đích trên bóng chày, và tôi nhận thấy bầu không khí loãng lúc này hoàn toàn quang mây. Tôi đứng thẳng lên và nhìn quanh. Các ô phần tư thể hiện thời gian xoay tròn dưới chân tôi trắng, đen, vàng và đỏ. Tôi đã lên tới đỉnh.
- Anh uống thêm gì nhé? – cô gái phục vụ bàn hỏi với giọng thệ thọt.
- Ờ… cô lấy giúp một tách espresso nữa được không? – tôi đáp, - và thêm một ly Cruzan.
- Dĩ nhiên.
Cô ta quay đi. Tôi vươn vai và ngồi thẳng thớm lại. Con chó ngoài đường vẫn đang sủa, với tiếng tru hệt như con Desert. Trong đầu tôi hiện lên cảnh tượng những phút cuối cùng trong cái đêm cuối cùng tôi lên ra chỗ chuồng nhốt con chó, khi tôi tôi biết mấy thằng anh họ sẽ tra tấn nó đến chết vào sáng hôm sau. Tôi cho nó uống nước, v**t v* nó một lát qua chấn song, và cuối cùng, khi chắc chắn rằng mặt trời, mặt trời không đợi lâu thêm nữa, tôi lấy trong ba lô ra một sợi dây và nhặt một thanh kim loại mạ crôm long ra từ mảnh vỏ xe cũ nào đó. Tôi quấn sợi dây quanh cổ con chó, buộc thanh kim lọai và và xoay. Sợi dây lún sâu vào khoang cổ rậm lông của Desert, nó im lặng một cách kỳ lạ, run rẩy nhưng không giãy dụa nên tôi biết tôi biết nó hiểu tôi đang làm gì. Nó tắt thở sau chưa đầy một phút, trong tư thế cuộn tròn, bất động, đầy vẻ biết ơn. Người bồi bàn đã quay lại. Tôi tợp một ngụm rượu rum, thêm một ngụm espresso, và – chỉ để chọc tức Marena – một viên kẹo dẻo.
Ahhh. Dễ chịu hơn rồi.
Tôi lại cúi xuống bàn cờ, nơi tôi vẫn đang đứng trên ô cờ màu ngọc bích ở chính giữa, trên đỉnh ngọn núi. Tôi nheo mắt nhìn quanh. Bên dưới, gió bão đã lặng đi và bụi đất đnag lẳng xuống, phủ kín mặt đất bằng phẳng. Có bốn cầu thang, hoặc có thể gọi là bốn lối mòn hay bốn con đường, hay cái khỉ gì đó tương tự cũng được, tỏa ra bốn hướng quanh bệ đá. Con đường ở mặt đông bắc dẫn xuống các bờ biển, nơi các thành phố công nghiệp mục ruỗng nằm chen chút san sát, chạy qua những con sóng bạc đầu và những xoáy nước trắng xóa che phủ trên các hẻm núi dưới đáy đại dương, chạy dưới những chiếc máy bay khổng lồ bạc trắng nối đuôi nhau, qua các thành phố trắng màu đá phấn nhưng hoen ố bẩn thỉu, đến tận vùng băng tan, rồi vào vùng băng trồi và cuối cùng là đến vùng băng hà bĩnh cửu. Một mùi cay cay như khói thuốc lá, mùi của quá khứ gần, thỏang qua bên tay trái tôi, tôi liền quay chín mươi độ ngược chiều kim đồng hồ để nhìn về hướng tây bắc. Ở đó có những đụn tan cháy dở và những đám tro phóng xạ cuốn lên, xa hơn nữa, rải rác những giếng dầu, những thung lũng khô cạn nom như cái âu đựng than đên sì cháy âm ỉ, bên trên và quanh miệng ngong nghòeo những dải nhựa đường, khói a-xít bốc lên ngùn ngụt, và xa nữa, tôi trông thấy những cuộn khói than tỏa ra từ các đầu tẩu hơi nước, những đòan người đói khát kéo theo xe cảng đi ngang dọc thảo nguyên, và ở tít đằng xa nhất, những bầy chim mòng biển ăn rác rưởi lượn trên mặt nước tối đen, trên lớp bằng mòng và trên tầng đất đóng băng vĩnh cửu trong buổi chiều tối kéo dài vô tận. Tôi quay sang hướng tây nam, đưa mát nhìn khắp các đầm lầy nước mặn đầy vẻ dữ tợn, nhung nhúc lòai giáp xác, khắp các cánh đông nhan nhản lũ chim ăn thịt khổng lồ với bộ lông vàng nhạt đang lao bổ xuống những đàn hipparia (Lòai động vật tổ tiên của lọai người ngày nay.) Tôi trông thấy một con ta-tu với cái mai như làm bằng đồng, to phải bằng chiếc Cherokee của Marena đang chui xuống một cái khe cạn, tiếp đến là một bầy khủng long bay, với sải cánh dài tới bốn mươi feet phủ lông tơ vàng óng, lượn theo hình xóay ốc trên xác những con cá sấu khổng lồ bên bờ trái đường biển Kỷ Phấn Trắng (Tức một đường biển nông vào đường kỷ Phấn Trắng từng ăn sâu vào lục địa Bắc Mỹ, nó kéo dài từ vịnh Mexico ăn thông ra tận Bắc Băng Dương, chia lục địa Bắc Mỹ thành hai nửa), và càng ra xa, càng xuất hiện nhiều sinh vật, nhiều địa danh, nhiều thời kỳ, nhiều giai đọan của quá khứ, giống như những bức tranh họat họa khắc vào rãnh núi mấp mô, kéo ra xa mãi cho đến khi tôi phải tiếp tục quay người sang trái. Ở đằng đông năm, bình minh đã xòe những ngón tay móng vuốt đỏ như máy lên vương quốc của những điều có thể xảy ra, một vùng đất trải rộng tít tắp, vượt qua cả nơi đường chân trời chạm vào mặt đất, tôi có cảm giác như đang đứng trên một hành tinh lớn bằng sao Mộc, hoặc không… phải nó là đang đứng trên một cánh đồng phẳng lỳ và mênh mông bất tận, và vì không khí trong vắt hòan tòan, hay chính xác hơn là chẳng hề có một không hí nên tôi tưởng như thấy rõ mồn một từng sự kiện ở đằng xa nhất, rõ như thể chúng ở ngay dưới chân tôi. Nhiều sự kiện quá. Quá nhiều.
Tôi tiếp tục chậm rãi quay người ngược chiều kim đồng hồ như hình phải chiếu qua gương của chiếc kim giây trên mặt chiếc đồng hồ hiệu Oyster Perpetual của Lindsay Warren. Giai đọan phát tác cuối cùng của Người Chèo Xuồng Già đã bắt đầu, đó là lúc anh cảm thấy cái mà công nương Koh gọi là "những con gió khác". Jed 2 giải thích rằng ý bà ta muốn nói tới các "yếu tố", hay năng lượng vô hình được hình tượng hóa. Với tôi, thứ đầu tiên tôi thấy thuờng là sức nóng. Nhìn nó hơi giống một bức ảnh chụp bằng hồng ngọai, duy có điều hơi nóng bức xạ từ các cơ thể sống, từ mácmóc và từ mặt đất lại có mày nâu như thuốc màu cũa hang Day-Glo và có múi như rượu rum lẫn với mùi ớt. Tiếp đó, thêm nhiều hình ảnh xuất hiện trong bức tranh: những tia sáng lóng lánh như kim cương tuôn ra từ mặt trời cháy rực, nhảy nhóc quanh trái đất và rơi trở lại mặt trời, những đợt sóng âm có màu nâu xám xịt truyền đi hàng nhìn tỉ byte thông số vô dụng, song siêu âm thì có mày gần như hỗn hợp tạp ra khí trộn xanh tím với da cam nếu chúng không thành ra màu xám, và khi giọt nước nhận thức của tôi lan ra đến một giới hạn nhất định, cơn lốc xóay của những tia gamma màu lục lam chiếu xuyên qua người tôi như những viên đạn súng lục bắn vào bầy ruồi vàng. Tôi tưởng như nghe thấy cả tiếng thiên thạch xé gió lao về phía trái đất, tiếng các địa tầng và chạm nhau, tiếng năng lượng tích tụ lại trong các khối đá hoa cương chồng chất, và dường như tôi có thể quan sát thấy lực hấp dẫn – nó có màu đỏ tía như quả dâu tằm – phóng ra từ trái đất, hút về phía những ngôi sao tối mờ và tan biến vào những khối ap xe đang tồn tại đó, tôi thậm chí thấy cả các hố đen in bóng lờ mờ lên những đám mây bụi vũ trụ. Rồi tôi bắt đầu nhận thấy những năng lượng nhỏ hơn, hay ta nên nói là yếu hơn, năng lượng của sinh vật sống, hơi nước bốc lên từ cây cối phát sáng màu xanh lá cây và đất son, màu da cam lạnh lùng từ những cây đang bóp nghẹt cây bên cạnh, những vệt chất phát tiết của các con vật kéo đồng lọat đi theo chúng như những hạt xòan trên sợi dây. Và cuối cùng, tôi nhận ra năng lượng của con người. Nhu cầu bức bách về t*nh d*c có màu đỏ rực lên đèn hiệu giao thông trên đường cao tốc, lan tràn khắp các nơi có người ở như những gợn trên đường cao tốc, lan tràn khắp các nơi có người ở như những gợn lăn tăng trên mặt hồ chứa dầu, rải rác những đốm sáng nhấp nháy của cơn cực khóai và tôi nghĩ tôi có thể cảm nhận được mùi vị của chúng từ xa và cái vị đó giống như vị nhím biển. Những tin sáng và hồ quanh trắng xanh của sự sợ hãi lan khắp mặt đất như những vết rạn nứt, tụ lại thành sét hòn ở các trường học, bệnh viện và những nơi đang có chiến sự. Yai – sự đau khổ, hay khói của sự đau đớn – bốc lên như sương sớm từ những giọt sương đẫm máu đang sôi lại dưới mặt đất. Nó có màu xám xanh gần như màu hoa ỏai hương nhưng không đẹp đẽ được như thế. Nó tụ lại như những cuộn khói, những dải sương mù, những đám mây. Nó có mũi đúng như Jed 2 đã tả, cái mùi mà anh ngửi thấy ở những con vật bị tra tấn cho đến chết, cái mùi lạ lùng như mùi ngược lại của mùi quế. Nó là thứ tinh chất mà những người khói ưa thích nhất.
Như tôi nghĩ tôi đã từng giải thích, chữ yai trong tiếngCh’olan có nghĩa là "đau khổ", nhưng nó được hiểu là "khói đau đớn" hay "sự đau đớn dùng để dâng cúng thần linh", hoặc các bạn có thể hiểu là "sự hành xác". Từ ngược nghĩ của nó là je’elsaj, nghĩa là "niềm vui" hay "niềm hạnh phúc", nhưng được hiểu theo nghĩa bị động hơn, như "an nghỉ" hoặc "thanh thản". Nhưng ngay cả khi đã đứng đến vài giờ để quan sát chân trời đằng đông, tôi vẫn thấy yai dày đặc như một đám mây sát chân trời đằng đông, còn những khỏang thời gian ngắn ngủi của je’elsaj chỉ như mấy chóp núi phủ lớp cỏ mày vàng xanh lá ra đây đó qua màn mây mù. Quả là một chiến không cân sức, - tôi thầm nghĩ. Nếu anh chọn ra một người bất kỳ, cộng những khỏang thời gian hạnh phúc và đau khổ của anh ta và đem so sánh, anh sẽ thấy chẳng khác nào so với một giọt nước với một ga lông. Và càng nhìn ra xa… hừ, trước giờ tôi cứ nghĩ tương lại sẽ tốt đẹp hơn cơ đấy, cứ tưởng người ta sẽ chán ghét chiến trang, sẽ chữa khỏi bệnh tật hay ít ra cũng cho tất cả lòai người dùng phê pha những viên thuốc hạnh phúc và đặt họ ngồi trước một màn hình hai tỉ pixel… nhưng thay vào đó, càng nhìn ra xa, tôi càng thấy đám mây yai càng lan rộng khắp, và trong hằng hà sa số những thế giới sẽ tồn tại trong tương lại, không một thế giới nào có quá vài hòn đảo je’elsaj lác đác nhô lên giữa các đám mây. Vì một lý do nào đó, tương lại sẽ chỉ tồi tệ đi.
Tuy thế, tôi vẫn cố đấm ăn xôi. Nhưng càng đếm, càng cộng và so sánh, tôi càng cảm thấy mình giống như… Marie Curie, chẳng hạn thế, và ai đó vừa đưa cho tôi chín tấn quặng uranit và bảo tôi tách hết uranium trong đó ra; và sau ba năm, tôi cho ra sản phẩm là một tí cặn lắng dưới đáy chiếc ống nghiệm cuối cùng, nó mỏng mang đến mức chẳng ai biết có nó ở đó nếu nó không sáng lóe lên.
Cuối cùng, tôi bỏ cuộc.
Thật ra cũng chẳng có gì là lạ, - tôi nghĩ. Nếu so sánh tưong quan thì sự đau khổ mạnh hơn vô số lần. Bất cừ ai từng trải qua sự đau đớn thật sự đều biết rằng người ta sẵn sàng đánh đổi một giờ của bất cứ niềm vui nào để để tránh một phút đau đớn thật sự. Tôi cứ suy nghĩ mãi về đứa bé với những viên sô cô la Milk Dud trên đọan băng ghi hình, mặt nó xị xuống, mếu máo, nước mắt nước mũi ràn rụa, vậy mà mới một vài phút trước, nó còn vui vẻ, phấn chấn, tận hưởng một ngày tuyệt vời, có lẽ là tuyệt vời nhất trong đời cho đến lúc đó, và bất thình lình, tất cả đổ vỡ tan tành. Hãy nhìn cái hố sâu không thể lấp đầy ngăn cách giữa cảm giác của đứa trẻ trên đọan băng và cảm giác của chính nó chỉ vài phút trước, cái hố ngăn cách đó sẽ vĩnh viễn đeo đẳng nó dù có đi đến bất cứ đâu… và khi thấy cái hố ấy, người ta hiểu rằng chỉ còn một cách giải quyết duy nất, đó là làm cho vũ trụ biến mất vĩnh viễn và ngày lập tứ, vì nó quá lhủng khiếp và không hạnh phúc nào, dù lớn đến đâu, có thể bù đắp được. Cho dù chỉ một tuần nữa, ai đó sẽ tìm ra cách chữa trị mọi bệnh tật và ngăn chặn tuổi già, cho dùng càng ngày hôm ấy, ai đó sẽ phát triển thành công phản ứng hạt nhân năng lượng thấp, phát minh ra máy dịch chuyển trong không gian và món bánh rán ngon lành không béo, và sau đó là cả một nghìn tỉ năm hạnh phúc không có chết chóc thì cũng không đáng để thế giới tiếp tục tồn tại chừng ấy thời gian, vì trong lúc đó đã có thêm nhiều đứa trẻ phải trải qia nỗi thất vọng tưong tự và không điều gì xảy ra sau đó có thể cân bằng được "nỗi đau lớn như độ sáng biểu kiến của một ngôi sao" ấy, dù chỉ một phần nhỏ đến đâu. Nếu anh có dù chỉ một phần nhỏ đến đâu. Nếu anh có dù chỉ một mảy sự thấu cảm, anh sẽ biết rằng một nỗi đau như thế có thể xóa sạch mọi điều tốt đẹp trong suy nghĩ của một người về thế giới. Còn nếu anh không có sự thấu cảm, nỗi đau đó sẽ xảy đến với anh để anh tự ngộ ra. Và có những người cho rằng họ không bào giờ có cái cảm giác đó… ừ, họ có thể là người tốt, nhưng thích phủ nhận… họ như những đứa trẻ ngôi trong xe, đi ngang qua một đàn bò và bảo nhau rằng bỏ thật đáng yêu khi thành món hamburger. Mỗi nỗi đau như thế không thể xoa dịu, không thể nguôi ngoai, không thể bù đắo, không thể bỏ qua. Và hơn hết thảy, nó không thể được phép lập lại. Dĩ nhiên, "nỗi đau lớn như độ sáng biểu kiến của một ngôi sao" là cách nói sáo rỗng. Cũng như nói "tốc độ ánh sáng". Nó là thứ mà ai cũng biết và đôi khi nói ra mà chẳng hiểu nghĩa là gì sất. Tuy nhiên, khác với "tốc độ ánh sáng", anh có lý do để không hiểu từ kia vì anh sẽ bỏ cuộc ngay khi bắt đầu hiểu. Anh sẽ chạy ngay khỏi phòng và trốn rúc vào bồn tắm. Và chỉ với sự tự dánh lừa bản thân ghê gớm anh mới có thể tiếp tục làm bất cứ điều gì khác. Hừ, sự đánh lừa đó có lẽ vẫn tiếp diễn cho đến tận ngày hôm nay. Nhưng giờ đây, chúng ta đã có thể khiến tất cả chám dứt. Và chúng ta biết điều đó là điều nên làm…
Òai.
Tôi chóng mặtTôi rời mắt khỏi đường chân trời và lấy lại thăng bằng. Đỡ rồi.
Chết tiệt. Tôi vẫn nghe thấy tiếng kêu gào của những linh hồn chưa ra đời.
Và cũng chẳng có gì là lạ, - tôi nghĩ. Chúng ta lôi cổ họ đến với thế giới, đặt lên một tay họ chín tấn kim lọai độc hại và nửa gram chất phát sáng lên tay kia, và chúng ta muốn họ cư xử như vừa nhận được một giao kéo công bằng. Người ta nhất trí phá bỏ những bào thai mà sau ngày cuộc sống của chúng chắn chắn sẽ đau khổ, những đứa trẻsẽ dược sinh ra với bệnh vảy cá, ví dụ thế, nhưng họ bỏ mặc không phá những đứa trẻ sẽ được sih ra với hội chứng khiến chúng đau đớn hàng ngày.
Vấn đề là anh không có nghĩa vụ phải làm điều tốt đẹp ngay cả với người đang sống chứ chưa nói gì đến người chưa có mặt trên trời, nhưng anh có nghĩa vụ không được làm họ đau đớn. Mà cho họ một ý thức tỉnh táo chính là làm họ đau đớn, ý thức tỉnh táo có lẽ là một trong những mánh bẩn thỉu nhất mà gien di truyền dùng để tái tạo bản thân chúng, nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta phải vào hùa với chúng. Với chúng ta, ý thức tỉnh táo chẳng là gì ngòai sự sai lầm.
Tôi tợp một ngụm Crusan.
Vào ngày Chúa tể 4, Bóng tối 8, 0.0.0.0.0, tức ngày 13 tháng 8 năm 3113 trước công nguyên, tổ tiên của chúng ta đã lập một giao kèo với tổ tiên của họ để được ban con cháu. Để có các thế hệ hậu duệ cúng tế đồ ăn của họ, tưởng nhớ họ, ngợi ca họ và quan trọng hơn hết là cúng cho họ chất men của sự đau đớn. Je’elsaj là dành cho chúng ta, còn yai là dành cho những người khói. Họ thèm nó nhưng nguời sành rượu nho thêm một chai Haut-Brion năm 1947, như con bướm thêm nước đường, hoặc như những thêm nước đường, hoặc như những tay hâm mộ đau xe thích xem cảnh đâm nhau.
Nhưng điều đó chỉ kéo dài, rất dài chứ không kéo dài mãi mãi. Chúng ta phải dâng cho những người khói – hay gọi cách khác là tổ tiên, thần thánh hay gì gì đó – dù những gì chúng ta nợ họ, nhưng chỉ cẩn đủ thôi, không cắn hơn.
Vì vậy, những Người Đếm Mặt Trời Vĩ Đại, những Người Thông Thái, đã tính tóan rằng ngày Chúa tể 4 là ngày nghĩa vụ trả nợ có thể hòan thành. Đó là ngày các Hậu Duệ phải làm điều cần làm.
Tôi ngả người ra sau. Tôi bẻ các khớp ngón tay và xoa mặt. Tôi nhìn quanh. Con chó với tiếng tru giống con Desert đã ngừng sủa. Vài phút nữa, nàng sẽ bắt đầu chiếu vào bàn tôi. Tôi vẫy tay gọi cô gái hầu bàn.
Để trở thành một người đếm mặt trời, - tôi nghĩ, - không chỉ đơn giản là biết chơi cờ Hiến tế hay sử dụng được Bụi Của Người Chéo Xuồng Già và Muối Mặn Già. Trách nhiệm thực sự của họ là phải nhận định thế giới mà không chịu tác động của sự đa cảm, không phao phí hết sức lực vào vào những mơ tưởng hão huyền, những cách giải quyết mê tín, không phủ nhận những gì không muốn tin và mọi điều tầm thường khác mà những kẻ tầm thường vẫn làm. Nghĩa vụ của họ là nhìn tỏ tưởng mọi sự, thấu hiểu đủ để biết điều gì là thực sự đúng và thực hiện điều đó chứ không phải điều khiến họ cảm thấy dễ chịu. Hãy để ý lời các a’nan – tôi nghĩ. Họ biết mình đang nói gì. K’a’oola’el, k’a’oltik. Người nào biết thì vẫn biết.
Những nhà thông thái viết nên cuốn Thư tịch không cho chúng ta biết điều về xảy ra mà cho chúng ta biết điều nên xảy ra.
Cô gái hầu bàn khép nép lại gần. Lần đầu tiên tôi thực sự nhìn cô ta. Cô ta có nước da nâu như cà phê, đầu để ngôi giữa và khuôn mặt ngây thơ. Tôi áng chừng cô ta chỉ độ mười lăm. Tuy ván cờ đã kết thúc nhưng tôi vẫn nhìn thấy quanh hông cô ta những tia sáng màu xám xanh như thiếc nóng chảy, cái màu khủng khiếp của yai. Chắc là có một vết đâu gì đó trong ổ bụng, - tôi nghĩ. Khó sinh chăng? Không, cá là không phải. Lở lóet à? Hay u nang t* c*ng? Có thể lắm. Nhưng đừng có hỏi cô ta chuyện đấy. Mày tuy có tinh tường hơn thường ngày thật, nhưng vẫn không phải là bác sĩ.
Tôi thanh toán tiền. Cô ta chậm rãi quay đi.
En todos modos.
Nhưng vẫn còn điều gì đó khiến tôi khó chịu. Sao Koh có thể không biết cuốn Codex muốn chỉ bảo tôi điều gì? Hay đúng hơn là bà ta đương nhiên biết, nhưng sao bà ta không cho tôi, chính xác là hơn là Jed 2, hay?
Tôi đóan rằng bà ta muốn chúng tôi tự hiểu. Hừ, vậy là bà ta có che mắt Jed 2 một chút. Chẳng có gì lạ. Nhưng sao hắn có thể ngờ nghệch thế nhỉ?
Nhưng tôi thì vẫn có vấn đề ấy trong nhiều chuyện, ý tôi là đôi khi tôi rất dễ bị đánh lừa. Nhất là khi có một cô gái trẻ xinh đẹp dính vào.
Hừ, dù gì thì hắn cũng chẳng bao giờ biết. Jed 2 ấy.
Tôi tợp một tợp gần hết chỗ rượu rum. Chúc hắn may mắn. Thằng con hoang.
Tôi moi ví ra lần nữa và đặt lên bàn món tiền boa gấp năm lần tiền rượu vì, các bạn biết đấy, như thế thì có sao? Tôi uống cạn tách cà phê, bỏ vào mồm thêm một viên kẹo dẻo.
Ký sinh trùng à? Quỷ tha ma bắt chúng đi. À… biết đâu chúng không chịu được cồn. Tôi dốc nốt ngụm rượu cuối cùng. Tôi ngả người ra sau.
Vậy là trách nhiệm thuộc về mình, - tôi tự nhủ. Một cảm giác… Ờ… một cảm giác về trách nhiệm to lớn. Nhưng nó không làm tôi choáng ngợp. Nó khiến tôi thêm mạnh mẽ.
Dù sao, như tôi đã nói, đó phải là kẻ hoàn toàn chán ghét thế giới. Phải vậy không? Kẻ nào đó nhận thức được tầm quan trọng của điều cần phải xảy ra, kẻ chấp nhận thực hiện bổn phận đó và có khả năng làm được điều đó.
Được thôi. Không vấn đề gì.
Tôi có quyết tâm làm điều đó. Tôi có phương tiện để làm điều đó. Tôi có sự chán ghét và tuyệt vọng. Và trên hết, tôi không phải thằng ngu từ trong gen như Madison. Biết đâu hắn đã làm hỏng phi vụ. Có thể vẫn còn những người chưa nhiễm vi rút ở châu Nam Cực hay đâu đó, và rốt cuộc họ sẽ khiến vòng quay cuộc sống bắt đầu từ đầu và thế là mọi sự thành ra công cốc. Hừ, lần này điều đó sẽ không xảy ra. Không thể xảy ra khi người làm là tôi.
Đây là một trách nhiệm lớn, nhưng tôi có thể đảm đương được.
Thực ra, - tôi nghĩ, - cũng dễ thôi mà. Họ đã gửi cho ta thông điệp về nhiệm vụ cần thực hiện, nhưng quan trọng hơn, họ đã gửi cả công cụ để hoàn thành nhiệm vụ đó.
Tôi đóng bàn cờ lại và đứng lên. Rốt cuộc, tôi đã hiểu rõ mình phải làm gì.
💬 Bình luận chương