Chúng tăng tập trung bên ngoài chính điện của chùa Tây Minh, bị hơn mười người Đột Quyết kề dao vào cổ, tất cả đều run lẩy bẩy. Lúc này trong lòng mọi người sợ hãi, không còn dáng vẻ bình tĩnh tự tin, có lẽ còn chửi thầm, bây giờ tụng kinh thì có ích gì!
Kẻ cầm đầu tự xưng là A Sử Na Đa Lộc, là một con sói cao quý trên thảo nguyên, hắn chắp tay trước ngược thi lễ không mấy trôi chảy với Thành Trí. Bởi vì ở Đột Quyết xảy ra nội loạn và phân tranh không ngừng nên nhánh tộc của hắn cũng chỉ còn lại chừng này người. Không biết bọn họ nghe được ở đâu, đêm hôm lẻn vào Trường An, “thành tâm” đến cầu Mật Pháp vô thượng vượt qua sinh tử trong truyền thuyết để giải trừ đau khổ.
Sắc mặt Thành Trí xanh trắng đan xen, ông đứng ở ngoài cửa điện, chắp tay trước ngực, không hé răng nói một lời. Người Đột Quyết cao to khỏe mạnh hơn người Trung Nguyên rất nhiều, cũng thô lỗ hơn. Bọn chúng đạp đổ ngọn đèn trước lư hương to lớn, đốt lửa hun khói. Trúc Hàn và một số đệ tử thân truyền của Thành Trí đều mặc tăng phục màu đen, đứng im không nhúc nhích, biểu cảm gương mặt không chút thay đổi. Có nhóm tiểu tăng mặc trang phục màu vàng nghe tiếng chạy đến, gương mặt non nớt tràn ngập sợ hãi, không dám đến gần.
Giọng của A Sử Na Đa Lộc khàn khàn, hắn nói tiếng Hán không quá trôi chảy, “Cao tăng, Đa Lộc bị bệnh tật quấn thân đã lâu, hơn nữa bây giờ trong gia tộc đang có loạn, mong ngài nói cho ta biết Mật Pháp vô thượng.”
Hắn bị bệnh tật quấn thân nhiều năm lại sợ bị giết trong chiến loạn, hoặc có lẽ là do làm quá nhiều việc ác nên sợ thiên thần Đằng Cách Lý không che chở cho mình nên gửi gắm hi vọng mong được Phật pháp bảo vệ.
Đúng là buồn cười.
Thành Trí gật đầu rồi vuốt cằm, cuối cùng cũng mở miệng, giọng nói không vui, “A Di Đà Phật, thí chủ. Mật pháp không thể trị khỏi bệnh nặng càng không phải là thuốc bất tử. Hết thảy vô thường, cũng chỉ là…”
Người Đột Quyết không có kiên nhẫn nghe ông giảng những lời thiền, thấy ông không nói liền tiến vào chính điện. Trong chính điện bày bàn rộng, trên đó đều là những đoạn kinh văn ngắn đã được dịch và chế tác, ở giữa là bản yên lành…”
Nàng cầm chén trà đặt trên cái bàn thấp cạnh giường ném thẳng về phía Quỷ Sứ, “Ta bảo ngươi câm miệng! Cút ra ngoài!”
Hắn lấy một cái hộp gỗ đàn hương đặt trong hộc tủ cạnh cửa ra, đặt mạnh xuống giường rồi tức giận xoay người rời đi.
Dường như A Âm nhận ra điều gì đó, tay run run mở nắp hộp, bên trong có mùi đàn hương quen thuộc, hai bộ tăng phục màu đen và xanh lam đều là thứ mà A Âm yêu thích, một trăm linh tám hạt gỗ tử đàn được xuyên thành tràng hạt, đã từng đứt đoạn vào ngày nàng quay về tìm chàng mười năm sau đó. Còn có mấy trang giấy đã viết chữ, bên trên là dòng chữ “Hết thảy hữu vi pháp” mở đầu kinh văn, dần dần cả tờ giấy biến thành “A Âm”, không biết chàng đã viết chúng khi nào. Ở dưới cùng là một cái chén không thể quen thuộc hơn, hoa văn quỷ dị trên cái chén vẫn sinh động như cũ, nàng chưa từng nghĩ Trúc Hàn lại cất giữ cẩn thận như vậy.
Nghĩ đến đây, lòng nàng đau đớn vô cùng, chàng đi lại trên thế gian này hai mươi năm, những những gì chàng sở hữu cũng chỉ có vẻn vẹn vài thứ này.
Lúc Chướng Nguyệt cầm một cái chén đựng mắt thú bước vào cửa, A Âm đang ôm tăng phục khóc không thành tiếng, nước mắt mờ mịt thấm ướt một mảng áo lớn. Chiếc áo đen được hỏa táng theo Trúc Hàn cũng đã nhiễm máu nhìn không ra hình dáng. Bây giờ nàng chỉ cảm thấy mình và thân thể này hòa vào nhau càng thêm hoàn mỹ, trái tim như bị móng tay sắc bén của bà La Sát c*m v**, hô hấp khó khăn vô cùng.
“A Âm, ăn đi.”
Nàng nghe tiếng ngẩng đầu, mái tóc rối bời lòa xòa trước trán, mặt mày trắng bệch, hai mắt đỏ ngầu.
Thấy nàng không trả lời cũng không có ý định ăn, Chướng Nguyệt đặt khay xuống rồi rút một sợi dây thừng đen từ trong cái túi ở tay áo ra. Hắn giang hai tay, sợi dây thừng làm từ sợi bông bay bay, ôm trọn cái cổ của A Âm, từ từ siết chặt lại. A Âm buông quần áo trong tay xuống, hai tay nắm yết hầu như sắp không thở nổi. Tiếng hít thở trở nên nặng nề, chậm chạp, đau đớn chồng đau đớn.
Cơn đau kéo dài một khắc đồng hồ, nàng không thốt nên lời, ngã xuống giường, nước mắt chảy không ngừng. Chướng Nguyệt nhìn thấy vậy thì đau lòng, vươn tay xoa vầng trán đẫm mồ hôi lạnh của nàng.
“Đây là dây quỷ trói buộc ngươi.”
Tất nhiên A Âm biết dây quỷ, đây không giống như Quỷ sai được Âm Ti thu nhận, có thù lao và được bảo vệ, đây là đơn phương ký kết hiệp nghị với Diêm Vương, ngày nào cũng phải bắt quỷ, giống như nô lệ bị người khác ép buộc.
“Bao nhiêu… năm…?”
Gương mặt Chướng Nguyệt tràn ngập vẻ nghiêm túc, “Một ngàn năm.”
A Âm cười thê lương, “Các ngươi… sao không để ta… chết đi?”
“Khó vượt qua cái chết của hắn đến vậy?”
“Ngươi thì hiểu cái gì?” Nước mắt nàng tuôn trào như suối, chảy mãi không ngừng.
Chướng Nguyệt ngồi gần nàng hơn chút, tay giữ vai đỡ nàng dậy, định giảng cho nàng hiểu ý nghĩa trong đó.
“A Âm, ngươi như thế này, ta và Quỷ Sứ nhìn thấy đều rất đau lòng. Ngươi đã vượt qua được cực hình ở Địa Ngục, điều đó chứng minh mạng quỷ của ngươi chưa tận. Chỉ cần còn sống thì lo gì không tìm được hòa thượng? Cho dù ngươi muốn chờ hắn thì cũng không thể dùng tính mạng chờ đợi chứ? Người phàm có thể chuyển thế đầu thai…”
Đôi mắt vô thần của A Âm chớp chớp, nàng bỗng nghĩ ra gì đó, lau nước mắt ngẩng đầu nhìn hắn, “Ngươi nói đúng, khi còn sống chàng hay làm việc thiện, sau khi mất ắt sẽ được đầu thai vào chỗ tốt. Ta phải đi tìm Thôi Giác hỏi.”
“Ngươi nghĩ Thôi Giác sẽ nói cho ngươi biết sao? Những gì viết trên Sổ Sinh Tử đâu nói cho ngươi biết được, lần trước ngươi gây sự làm ông ta tức giận, bớt mơ mộng hão huyền đi.”
…
Những năm tháng sau đó nàng sống trong gian nan ngột ngạt, hoặc là nói từ sau khi Trúc Hàn qua đời, nàng chưa từng cảm thấy mình còn sống.
Không đến nửa tháng A Âm đã gần như khỏi hẳn, việc đầu tiên nàng làm là quỳ gối bên ngoài cửa điện của Thôi Giác gần hai ngày hai đêm, ngón tay đập đánh cửa bắt đầu rỉ máu, khóc lóc thê thảm cầu xin ông ta nói cho nàng biết nơi Trúc Hàn chuyển thế nhưng phán quan mặt sắt đóng cửa không ra ngoài, cũng không làm việc phải làm, nhất quyết không cho A Âm bất kỳ câu trả lời nào.
Sau đó mọi người đều biết quỷ Âm Ma La, A Âm cô nương trở thành Quỷ sai có khế ước duy nhất trong những năm gần đây, đồn rằng nếu nhìn thấy một cô gái xinh đẹp quyến rũ có ngấn đen trên cổ nhất định phải tránh xa.
Nghe đâu lúc trước nàng ấm đầu, giết rất nhiều người phàm, bây giờ bắt quỷ cũng liều mạng phá tường hủy đá, nên tránh gây chuyện với nàng là tốt nhất.
Vào một đêm hè nóng nực nhất, Chướng Nguyệt lạnh lùng bắt một tên hòa thượng đến quán rượu, quẳng vào phòng của A Âm.
A Âm vừa áp tải ác quỷ cuối cùng của ngày hôm nay xuống Âm Ti, người toàn mùi hôi thối lại mệt mỏi rã rời, uống vài chén với Quỷ Sứ ở dưới lầu rồi lên lầu.
Thấy gương mặt của tiểu hòa thượng đang run lẩy bẩy kia có bảy phần giống Trúc Hàn nhưng dáng vẻ trốn tránh ấy không phải người thương của nàng.
Đôi mắt của người ấy dù nhìn bất kể thứ gì cũng rất chăm chú, cho dù là thứ mình không thích thì vẻ mặt chàng vẫn luôn chân thành, không ai có thể sánh được.
Nàng quá tỉnh táo, đối mặt với một người giống chàng đến vậy, thế mà không rơi một giọt nước mắt, thậm chí mở miệng lạnh tanh.
“Pháp hiệu của ngươi là gì?”
“Tiểu tăng… Trinh Vĩnh.”
Nhìn xem, ngay cả tên cũng không giống.
A Âm im lặng hồi lâu, cuối cùng nhìn thoáng qua bóng dáng ấy, thở dài nói, “Ngươi đi đi.”
Nàng bắt đầu cởi bở quần áo khó ngửi trên người, hòa thượng kia vội vã mở cửa chạy trốn, trên đường va phải người làm đang bưng khay, tạo thành tiếng động ầm ĩ.
Đợi tắm rửa thay quần áo sạch sẽ xong, A Âm bước đến cầu thang, nhìn Chướng Nguyệt mặc đồ trắng ở dưới hét to, “Bớt làm mấy chuyện đê tiện đó đi!” rồi bỏ lại hai kẻ mặc đồ trắng xấu hổ nhìn nhau, không dám nhiều lời.
Ngày hôm sau, trong chùa Tây Minh ở Trường An có tăng nhân phá giới, lén lút yêu đương với phụ nữ bị bắt. Sau khi tra khảo mới biết không ngờ đã được nửa năm, mà bản chú giải Kinh Kim Cương Đỉnh cuối cùng cũng xong, Thành Trí cũng qua đời ngay sau đó, chuyện vui bỗng hóa đau buồn.
Ban ngày A Âm rảnh rỗi, nghe thấy những lời đàm tiếu này ở quán rượu thì cười nhạt. Nàng bỗng nhớ đến dạo trước lúc nàng định giết Thành Trí, hòa thượng già đã quỳ xuống đất khóc nức nở, thê thảm lặp đi lặp lại một câu, “Hổ thẹn với sư đệ, hổ thẹn với Quan Trừng”. Nàng đồng ý để ông ta tiếp tục dịch kinh, quay người rời đi, bây giờ chỉ cảm thán Thành Trí là người giữ lời, tuyệt không sống thêm ngày nào.
Lại một cái Tết Trung Nguyên nữa trôi qua, Quỷ giới đều vui mừng, chỉ riêng A Âm không được thảnh thơi, nàng cũng không có lòng hưởng thụ. Trên đường tìm kiếm một tiểu quỷ bỏ trốn, nàng gặp Trần Hoài Bồ đã lâu không gặp.
Hai người sóng vai bước đi, than thở thời gian trôi qua nhanh quá, đúng là khiến người ta phải bóp cổ tay. Hắn là người biết nhìn mặt nói chuyện, lần này gặp A Âm chỉ cảm thấy vẻ quyến rũ trên gương mặt nàng giảm bớt rất nhiều, thay vào đó là sầu bi mênh mang.
Tết Trung Nguyên không nhộn nhịp như Tết Thượng Nguyên nhưng hơn ở thời tiết ấm áp, người bán hàng rong trên đường hô hào mời khách nhưng tất cả đều không lọt vào tai A Âm, trái tim nàng đã đóng kín cửa.
Trần Hoài Bồ bỗng mở miệng, dặn nàng đứng im tại chỗ còn mình thì chen vào đám đông không biết là muốn mua gì. A Âm nhìn bóng lưng mặc áo cổ tròn, chỉ cảm thấy mình vừa trải qua cảnh này vào dịp Nguyên Tiêu, nhưng nay người đã khác, cõi lòng cũng hoàn toàn khác biệt.
Có lẽ là gió thổi qua khiến mắt hơi cay, đôi mắt nàng lóng lánh hơi nước. Nàng thầm nghĩ nhất định là do gió, đã lâu rồi nàng không khóc mà khóc cũng chẳng có gì hay.
Trần Hoài Bồ chen qua đám người, cầm một ống giấy dầu giơ đến trước mặt nàng, nhưng đó không phải đậu nành rang Trúc Hàn từng mua.
A Âm cầm một hạt bỏ vào miệng, nàng không cảm nhận được bất cứ hương vị gì, chết lặng nuốt thẳng xuống. Trần Hoài Bồ nhìn vẻ mặt dại ra của nàng, hắn muốn mở miệng lại không biết phải nói gì.
A Âm cảm thấy cổ họng khó chịu, dằn dòng cảm xúc dâng trào xuống, hỏi, “Xin Trần thống lĩnh cho hay, vì sao lại mua đậu nành này cho ta?”
Nàng thực sự rất tò mò, xưa giờ nàng đều nghĩ là Trúc Hàn thích ăn nhưng bây giờ hiển nhiên không phải.
Trần Hoài Bồ hơi hốt hoảng, chậm rãi mở miệng, “Trước đó ở trong phủ đều nấu cơm chay, không ngờ A Âm cô nương lại rất thích ăn đậu nành. Đương nhiên chuyện này không phải do ta phát hiện, là Trúc Hàn sư phụ tỉ mỉ, nói với ta cô nương đã gắp món này nhiều lần, chắc hẳn là rất thích… Ta…”
Hình như nhận ra mình vừa nhắc tên Trúc Hàn, hắn hơi hối hận, định giải thích thì thấy A Âm dứt khoát xoay người, hắn không giữ lại được.
Quan Trừng ngốc, chàng là người ngốc nhất trên đời, không có ai ngốc hơn nàng. Nàng bị bà La Sát lấy mất ngọn lửa màu lam, vị giác bị ảnh hưởng đến nay chưa khỏi, làm sao nếm được đồ ăn ngon thế nào?
Lòng nàng trống trải, cố kìm chế không khóc, nàng còn có việc phải làm. Nàng đi dạo như cô hồn dã quỷ, cảm thấy mình không còn tỉnh táo nữa, chỉ muốn nhanh chóng rời khỏi đường lớn ồn ào náo nhiệt khiến ngươi ta hít thở khó khăn này.
Trường An được tám con sông vây quanh, nàng đi qua một cây cầu, bên cầu có rất nhiều người đang thả đèn, có người còn lớn giọng cầu nguyện.
Sau lưng có vị nương tử dịu dàng lẩm bẩm nói với sông đèn, “Cầu xin Hà Thần phù hộ cho chuyến đi này của Tề lang thuận lợi, nhanh chóng đón cả nhà đến Lạc Châu.”
Nghe những lời này nàng cười thầm trong bụng, rất nhiều người muốn chen chân vào Trường An phồn hoa, nàng này lại không hề lưu luyến. Suy nghĩ một lúc nàng bỗng thất thần, nàng cười người khác nhưng với nàng, Trường An có gì để lưu luyến?
Nàng hoảng hốt đi về phía trước, có một người nhẹ nhàng đuổi theo nàng, miệng gọi, “Tỷ tỷ… tỷ tỷ áo xám…”
A Âm quay đầu, thấy trước mặt là một thiếu nữ chải hai búi tóc đậu khấu, mặc trang phục màu vàng, trông rất lanh lợi.
Thiếu nữ thở phì phò, hai tay cầm quyển sách quỷ bị rơi đến trước mặt nàng. Bởi vì nhặt vội mà quyển sổ mở bung ra, trông hơi lộn xộn. Nàng cúi đầu nhìn xem, trông thấy tờ giấy trước mặt thì ngây ngốc, nước mắt thoáng chốc đã tuôn rơi.
“Tỷ tỷ, cổ tỷ có sợi dây màu đen…” Thấy A Âm khóc thút thít, thiếu nữ hơi bối rối, “Sao tỷ lại khóc? Đêm Trung Nguyên là ngày tốt để tưởng nhớ cố nhân…”
Cách đó không xa, nương tử vừa cầu nguyện lo lắng gọi, “A Mộng! Trời đã tối rồi, nên về thôi!”
Thiếu nữ áo vàng bối rối, nhưng không chịu nổi tiếng thúc giục phía sau chỉ đành bỏ lại câu “Tỷ tỷ giữ gìn sức khỏe” rồi chạy đi mất tích.
A Âm ngã xuống đất, sự ẩn nhẫn kìm chế mấy tháng qua tuyên bố sụp đổ, nước mắt thấm ướt vạt áo.
Người lo lắng sầu khổ, sợ nhất là ngày này hàng năm. Cảm xúc của những lữ khách qua đường bình thường cũng sẽ bị sụp đổ vào những lúc như thế này.
Cảnh tượng hai người vui vẻ hạnh phúc hãy còn rõ mồn một trước mắt, ai có thể kìm chế được nỗi đau như xé ruột.
Đã lâu rồi nàng chưa xem sách quỷ, trong đó có một trang giấy trắng, trên đó là hai chữ “Quan Trừng” nàng đã viết từ rất lâu, bởi vì nét chữ quá nhiều mà chữ viết rất xấu. Ở phía dưới, không biết chàng đã thêm vào ba chữ từ bao giờ, những nét chữ như rồng bay phượng múa, chứa đựng khí thế tựa sóng trào.
Cũng có tình ý sâu đậm.
Chăm chỉ tập viết
Đừng quên ăn cơm.
Quan Trừng.
💬 Bình luận chương