Sự lộng lẫy của tuần lễ thời trang đến rồi đi, các rạp được gập lại và cất đâu đó trong kho vải. Và thành phố trở lại nhịp điệu thường ngày của công việc, công việc, và lại công việc.
Trong khu trước đây là kho hàng ở Manhattan trên Phố 26 gần ngay Đại lộ 5, căn nhà Healy ở trong trạng thái lộn xộn thường nhật của nó. Trong căn hộ chưa-hoàn-thành-xong-hẳn từng là nhà của Wendy Healy, Shane chồng cô, ba đứa con của họ, và một tập hợp những cá, rùa, và chuột lang trong ba năm qua, những băng giấy đủ màu từ bữa tiệc sinh nhật tuần trước vẫn treo trên trần nhà ngoài hành lang. Sàn nhà vương vãi đầy bong bóng đã teo lại. Một đứa bé chập chững mặt đỏ bừng, không phân biệt được là trai hay gái, đứng hét trên sofa. Còn bên dưới là một thằng nhóc tóc đen đang vừa bò vừa cố phá chiếc xe cứu hỏa màu đỏ bằng kim loại bằng cách nện liên tục xuống sàn gỗ cứng đã toác ra.
Cửa phòng tắm bật ra, và Wendy Healy, kính đeo lệch, túm chặt chiếc kimono Nhật quanh người, chạy vụt vào phòng. Cô bế đứa chập chững lên bằng một tay, và giật cái xe cứu hỏa đỏ bằng tay kia. “Tyler!” cô mắng thằng nhỏ. “Chuẩn bị đi học đi!”
Tyler nằm sấp xuống và ôm đầu.
“Tyler...” Wendy nói vẻ cảnh cáo.
Không có phản ứng gì. Wendy túm lấy phần sau chiếc áo pyjama của nó rồi kéo nó dậy.
“Mẹ nói xin con đi,” Tyler bình tĩnh nói.
Wendy lắc nhẹ đứa chập chững trong khi cố phán đoán tâm trạng của Tyler. Nó chỉ mới sáu tuổi và cô không muốn chịu thua nó. Nhưng nếu có thể bắt nó vào phòng mặc quần áo, thì chịu nhục tí cũng đáng.
“Được rồi,” cô thở dài. “Xin con đấy.”
“Xin con gì cơ?” Tyler nói vẻ tự tin chiến thắng.
Wendy đảo mắt. “Xin con vào phòng và chuẩn bị đi học.”
Mặt thằng nhỏ ánh lên vẻ láu cá. “Trả tiền đi,” nó nói.
“Cái gì?” Wendy hỏi, miệng há hốc.
“Trả tiền cho con đi,” nó đáp, ra vẻ kẻ cả và chìa tay ra.
Wendy nhăn nhó. “Bao nhiêu?” cô hỏi.
“Năm đô.”
“Ba.”
“OK.” Họ bắt tay và Tyler chạy vào phòng, sung sướng vì vừa thắng mẹ thêm một lần nữa.
“Tiền,” đứa nhỏ nói. Đứa bé là con gái, được mười bảy tháng, và Wendy thề từ đầu tiên nó nói là “tiền” chứ không phải “mẹ”. Nhưng ta làm gì được cơ chứ?
“Tiền. Đúng rồi con yêu. Tiền. Một thứ tốt,” Wendy vừa nói vừa bước vào phòng ngủ. Như phần còn lại của căn hộ, nó chỉ được trang trí những vật dụng cần thiết, vậy mà vẫn toát ra vẻ lộn xộn ghê gớm. “Tiền là một thứ tốt, đúng không con yêu?” cô nói đầy chủ ý, chĩa ánh mắt vào chồng mình là Shane. Anh này vẫn còn nằm trên giường.
“Em đang cố nói gì với anh à?” Shane hỏi.
Ôi trời ơi. Nghe cái giọng kiểu đó là cô biết anh lại sắp sửa nổi cáu. Cô không biết mình có thể chịu đựng anh bao lâu nữa. Kể từ hồi Giáng sinh năm ngoái, tính đến giờ là cũng một năm rồi, tâm trạng anh thay đổi từ hay quên tới hằn học, như thể kiểu gì đó anh đã trở thành con tin trong chính cuộc đời mình vậy.
“Anh giúp em một tay được không cưng?” cô hỏi, giọng chỉ hơi lộ vẻ khó chịu. Cô đeo lên mặt một vẻ hồ hởi giả tạo. Cô muốn hét vào mặt anh. Nhưng sau mười hai năm lấy nhau, cô biết Shane phản ứng không hay lắm khi phụ nữ điên tiết. Nếu cô hét lên, anh chỉ càng trở nên lì lợm hơn mà thôi.
Shane ngồi dậy, nhăn nhó, duỗi tay, và ngơ ngẩn ngáp. Mặc cho sự thật rằng anh chỉ là một tên khốn và cô cáu anh, Wendy đột nhiên thấy yêu anh dào dạt. Shane thật sự rất bảnh trai và vô cùng gợi cảm. Và nếu không phải đang ôm đứa bé, chắc hẳn cô sẽ cố l*m t*nh với anh. Nhưng cô không thể khen thưởng cho hành vi tồi tệ của anh bằng cách thổi kèn cho anh được. “Tyler hỗn ghê luôn,” cô nói. “Mà em không thấy Magda đâu...”
“Chắc nó ở trong phòng, khóc lóc,” Shane thờ ơ nói.
“Chúng ta bị trễ mất thôi,” Wendy nói.
“Bà-tên-bà-ấy-là-gì đâu rồi?”
“Bà Minniver,” Wendy nói, sửa cho anh. “Em không biết. Em đoán chắc bà ấy cũng đến trễ. Thời tiết chán kinh... Anh bế con được không? Để em tắm một cái?”
Cô đẩy đứa bé cho anh. Đứa bé túm lấy mái chóc lỉa chỉa thời trang của anh (Shane đã cấy tóc bảy năm trước, cô trả tiền cho vụ này) và thích thú giật. Trong khi Shane, thích thú không kém, cọ mũi với nó. Wendy dừng lại, cảm động bởi hành đ*ng t*nh cảm ấm áp của cha và con gái - có ông bố nào có thể tốt hơn Shane không? - nhưng tình cảm lập tức tan tành khi Shane nói, “Hôm nay em phải đưa bọn nhỏ đến trường. Anh có buổi họp.”
“Họp gì?” Wendy nghi ngờ hỏi. “Họp gì vào lúc chín giờ sáng?”
“Chín rưỡi. Nhưng ở nhà hàng. Vì thế từ trường bọn nhỏ đi sang đầu bên kia thành phố thì không kịp.”
“Anh họp sau không được à?”
“Không, Wendy,” anh nói, giả vờ tỏ ra kiên nhẫn, như thể anh đã giải thích cho cô việc này rất nhiều lần trước đây rồi. “Họp với nhà thầu. Và thanh tra công trình. Em có biết để có được một cuộc họp với mấy tay này khó khăn thế nào không? Nếu em muốn anh đổi thì anh sẽ đổi thôi. Nhưng rồi ít nhất phải hai tháng nữa nhà hàng này mới mở cửa được. Nhưng thế thì có làm sao, tiền của em mà.”
Ôi trời ơi, cô nghĩ. Giờ anh ta sắp sửa dỗi đấy. “Tiền của chúng ta, Shane ạ,” cô dịu dàng nói. “Em đã nói với anh hàng triệu lần rồi. Tiền em kiếm là cho gia đình mình. Cho chúng ta. Anh và em.” Nếu tình huống này bị đảo ngược, nếu anh mới là người kiếm tất cả tiền bạc và cô không làm được một xu, cô sẽ không muốn chồng cô giơ nó lên đầu mình và nói tất cả tiền là của anh. Cô dừng lại. “Em chỉ nghĩ... có lẽ anh không thích làm nhà hàng này lắm. Có lẽ anh nên quay lại viết kịch bản...”
Chuyện này như là vẫy lá cờ đỏ trước mặt con bò. “Mẹ kiếp, Wendy,” anh quát. “Em muốn gì chứ?”
Cô dừng lại, và cứng hết cả hàm lại. Việc đầu tiên cô nghĩ đến là cô muốn được đi nghỉ mà không có anh và bọn trẻ. Nhưng cô nhanh chóng nhận ra mình không muốn đi nghỉ, cô chỉ muốn làm thêm phim. Nếu thực sự thành thực, cô muốn một trong những phim bộ phim của cô giành giải Phim Xuất sắc nhất tại giải Oscar (đến bây giờ, năm phim của cô đã được đề cử nhưng chưa có cái nào được), và cô muốn bước trên thảm đỏ và lên sân khấu cảm ơn mọi người (“Và đặc biệt tôi muốn cám ơn người chồng thân yêu của tôi, Shane, mà không có sự hỗ trợ của anh ấy, tôi không thể làm được việc này”, và sau đó được ca ngợi. Nhưng rồi cô khẽ nói, “Em chỉ muốn anh hạnh phúc, Shane ạ,” và một giây sau: “Để tất cả chúng mình đều hạnh phúc.”
Cô vào phòng tắm, mở vòi nước, và đứng dưới vòi hoa sen. Chúa ơi, cô nghĩ. Cô phải làm cái quái gì với Shane đây?
Cô chớp mắt dưới làn nước nóng, mò mẫm tìm chai dầu gội đầu, và giơ cái chai lên tận mặt để nhìn, may là vẫn còn ít dầu gội. Cho dầu lên tóc, cô tự hỏi mình có thể làm gì thêm nữa để giúp Shane. Suy cho cùng, anh là một người đàn ông đã trưởng thành. Anh ba mươi chín tuổi đầu rồi. (Mặc dù nói chung là anh trông trẻ hơn tuổi. Trẻ hơn rất rất nhiều. Cô thích nói đùa anh là đứa con thứ tư của cô.) Anh đang phát điên lên vì bước sang tuổi bốn mươi? Hay thực sự là do chuyện tiền nong, và do Shane ít nhất mười năm rồi không tự kiếm được đồng nào?
Nhưng chuyện này chả có gì mới lạ. Cô đã hỗ trợ cho anh kể từ ngày họ gặp nhau cách đây mười lăm năm. Cô là nhân viên phát triển ở một xưởng phim, còn anh sẽ là nhà làm phim cỡ lớn. Không phải đạo diễn, mà là nhà làm phim. Anh trẻ hơn cô ba tuổi. Vào lúc đó là chuyện khá táo bạo. Một phụ nữ hai mươi bảy tuổi yêu một anh chàng hai mươi tư, và anh đẹp trai đủ để làm diễn viên. Nhưng việc diễn xuất thì không trí thức lắm. Nó nằm dưới tầm anh. Anh sống chung với ba anh chàng trong một căn nhà trên phố đi bộ ở Santa Monica, không có lợi lắm cho một mối quan hệ (hay thậm chí cho chuyện yêu đương). Vì vậy hai tuần sau anh chuyển tới ở với cô. Anh là, như anh nói, một thiên tài sáng tạo. Cô thì thực dụng. Cô không quan tâm. Anh thật điển trai. Và ngọt ngào. Nhưng luôn hơi nhạy cảm. Anh viết kịch bản và cố kiếm tiền để độc lập làm phim. Cô giúp anh. Mất hai năm và 300.000 đô la để làm được bộ phim, rồi anh đi Sundance, và nó cũng đình đám chút đỉnh, rồi họ lấy nhau.
Nhưng rồi, đúng theo kiểu Hollywood điển hình, chẳng có gì xảy ra cả. Shane liên tục viết kịch bản, mà chẳng cái nào được dựng thành phim. Sự thật là, chúng không hay ho gì cho lắm, một việc cô giữ riêng cho mình. Cô tự nhủ việc đó chả quan trọng. Anh ủng hộ cô và là một người cha vĩ đại và họ vui vẻ, vì thế cô không quan tâm. Và vì những lý do mà cô không bao giờ hiểu rõ nổi, sự nghiệp của cô cứ thăng tiến vù vù. Trên thực tế, lúc này cô có một sự nghiệp vĩ đại, nhưng cô không muốn bám vào đó. Vị trí của cô quan trọng chỉ vì nó có nghĩa là họ không phải lo chuyện tiền nong, mặc dù cô thầm lo chuyện tiền bạc suốt. Cô lo mình sẽ bị đuổi, hay bị mất sạch tiền, và rồi họ sẽ làm gì? Và giờ Shane, đã đi từ viết kịch bản sang tiểu thuyết (không xuất bản), đang cố mở một nhà hàng. Cô đã bỏ ra 250.000 đô. Cô không biết nhiều lắm về dự án đó vì không có thời gian. Nó chắc hẳn là một thảm họa. Nhưng rồi cô có thể khấu trừ tiền từ thuế...
Cô bước ra khỏi vòi hoa sen, đúng lúc đó Shane bước vào phòng tắm đưa cho cô chiếc điện thoại di động. Cô tò mò nhìn anh.
“Josh gọi,” anh nói, mặt nhăn nhó.
Cô thở dài khó chịu. Josh là một trong ba trợ lý của cô. Một gã hai mươi ba tuổi hợm hĩnh chẳng buồn che giấu sự thật rằng anh ta nghĩ mình mới chính là người ở vị trí của cô. Cô đã cố nói rõ với Josh rằng buổi sáng sớm là thời gian dành cho gia đình. Và cô sẽ không nhận điện thoại trước chín giờ sáng dù cho là khẩn cấp. Nhưng Josh chẳng bao giờ chịu nghe, và thường gọi cô ít nhất ba lần từ lúc bảy rưỡi đến chín giờ mười lăm, khi cô đến văn phòng.
Cô vừa đưa điện thoại lên tai vừa lau chân. “Mới sớm ra, như mọi khi, Josh nhỉ,” cô nói.
Một khoảng im lặng nhất thời như thể là lời buộc tội. Với Josh có vẻ là không thể hiểu được khi người ta có thể có cuộc đời khác ngoài công việc. Và nếu thế thật, thái độ của anh ta có vẻ nói rằng, họ không nên ở trong vị trí có quyền lực - đặc biệt là ở trên anh ta.
“Vic-tor Mat-rick vừa gọi,” Josh nói, phát âm từng âm tiết để nhấn mạnh. “Tôi nghĩ chắc hẳn chị sẽ nghĩ việc đó quan trọng.”
Mẹ kiếp, cô muốn hét lên. Mẹ kiếp, mẹ kiếp, mẹ kiếp. Victor Matrick là CEO của Splatch-Verner, và giờ sở hữu Parador Pictures, nơi cô làm chủ tịch hãng phim này.
“Cậu nói gì với ông ta?”
“Tôi bảo ông ta rằng lúc này chị không rảnh, nhưng tôi sẽ cố gọi cho chị.” Anh ta dừng lại. “Giờ tôi có nên gọi lại cho ông ta không?”
“Chờ tôi một giây nhé?” Cô quấn khăn quanh ngực và vội ra khỏi phòng tắm, qua căn bếp không vách ngăn. Bà Minniver đã đến và đang cáu kỉnh cho bọn nhỏ ăn bánh với pho mát kem. Một cách thần kỳ, Tyler và Magde đều đã mặc sẵn quần áo để đi học. “Chào buổi sáng,” bà Minniver càu nhàu nói, bằng cái giọng người Anh nuốt từ của bà. Bà ta hưởng lương 150.000 đô một năm. Và Wendy thường thích đùa là trong khi hầu hết các vú em được trả 100.000 đô thì giọng của bà Minniver đáng giá thêm 50.000 đô. Wendy vẫy tay chào rồi vội vào căn phòng nhỏ ở phía sau mà họ gọi là văn phòng. Bên trong kê một chiếc bàn kim loại, một máy tính mới toanh, vài hộp đồ chưa khui, đồ chơi, đủ loại DVD, một máy tập thể dục lớn (dùng một lần), và ba đôi ván trượt tuyết. Cô ngồi xuống chiếc ghế xoay mềm mại. “Giờ cậu có thể gọi cho Victor rồi đấy,” cô nói vào điện thoại. Chiếc khăn rơi ra và cô nhìn xuống ngực mình. Chúa ơi ngực cô thực sự xệ xuống rồi. Chúng từng là niềm tự hào và niềm vui của cô. Bây giờ chúng giống hai quả lê lớn đã bị dẹp. Cô sẽ phải nghiêm chỉnh cân nhắc việc nâng ngực...
“Tôi đã gọi Victor Matrick cho chị,” giọng nửa cạnh khóe, nửa nịnh bợ của Josh vang lên ở đầu bên kia.
“Xin chào, Victor,” cô nồng nhiệt nói.
“Tôi hy vọng không làm phiền cô,” Victor dịu dàng nói.
“Không hề.”
“Bộ phim chúng ta đang chiếu. The Spotted Pig. Tôi nghĩ không biết phim đó tôi đưa đứa cháu đi xem được không?”
Cái quái gì thế này? Ông ta đang nói chuyện quỷ gì thế? “Tôi nghĩ còn tùy cháu ông bao tuổi, Victor ạ,” cô thận trọng nói. Có lẽ nào ông ta lại không biết chút gì về bộ phim này? “Nó là phim hài lãng mạn lớn chúng ta làm để công chiếu vào tháng Mười hai...”
“Vậy nó không phải là phim dành cho thiếu nhi,” Victor nói.
“Khônggg,” Wendy cẩn thận nói. “Nó là phim hài lãng mạn lấy tâm điểm là một nhà hàng sành điệu ở West Village. Jenny Cadine và Tanner Cole là diễn viên chính...”
“Tôi biết Jenny Cadine đóng phim đó, và tôi cứ thắc mắc tại sao cô ta lại đồng ý đóng vai một con lợn,” Victor kêu lên, và (ơn Chúa, Wendy nghĩ) bật cười ầm ĩ.
“Đó là điều mà tôi chắc hầu hết dân Mỹ sẽ muốn được xem, nhưng thực ra Victor ạ, ‘The Spotted Pig’ là tên nhà hàng.”
“Ừ, Wendy,” Victor nói, bình tĩnh lại sau khi cười xong, “Tôi mong được gặp cô lúc năm giờ.”
“Vâng, Victor. Năm giờ,” cô dịu dàng nói, muốn hét lên. Việc trình chiếu đã được lên lịch vào lúc bốn giờ trong hai tuần qua.
“Tôi nghĩ phim chiếu lúc bốn giờ chứ,” Josh rít lên giận dữ, ngay khi Victor gác máy. Theo thủ tục thì trợ lý cũng nghe điện thoại, để họ có thể ghi chép lại trong cuộc nói chuyện nếu cần thiết.
“Đúng vậy,” Wendy mỉa mai nói. “Nhưng giờ, tôi đoán là năm rồi. Vậy anh sẽ phải gọi cho tất cả mọi người báo là đổi giờ.”
“Nhỡ họ không đến được thì sao?”
“Họ sẽ đến, Josh ạ, tin tôi đi. Cứ bảo họ là Victor Matrick đổi giờ.” Cô gác máy và ngồi ngả người ra trên ghế, khẽ rên lên. Đã bao năm nay, mọi người luôn bảo rằng Victor Matrick, mà tất cả đều gọi là Lão Già, sẽ phát điên, và cuộc điện thoại sáng nay có vẻ là bằng chứng. Đó là tất cả những gì cô cần: Nếu Victor hóa điên và buộc phải từ chức CEO, công ty sẽ đưa ai đó lên thay ông ta và cô chắc chắn sẽ là người đầu tiên bị sa thải. Người nào ở vị trí của cô luôn luôn bị vậy. Dù cô có làm tốt đến mức nào, chủ tịch của Parador Pictures sẽ là một lựa chọn phù phiếm cho vị CEO mới. Và rồi cô sẽ làm gì? Chuyện gì sẽ xảy đến với con cô? Với Shane?
Mẹ nó chứ, cô vừa nghĩ vừa nhặt khăn lên. Thế nghĩa là cô sẽ phải làm việc chăm chỉ hơn nữa, và cô sẽ phải khéo léo trong chuyện này. Chắc hẳn họ sẽ thay Victor bằng người trong nội bộ. Thế nghĩa là cô sẽ phải bắt đầu lấy lòng các chủ tịch bộ phận và các CEO vị trí thấp hơn Victor. Thời điểm không thể tệ hơn. Parador sản xuất mười sáu bộ phim một năm. Tất cả số đó cô đều quản lý - từ khâu mua ai đó khác.
Cô nhấc gót giày cao gót lên nhấn thật lực xuống một ngón chân của bàn chân bên kia. Cô sẽ không nghĩ như thế này. Cô sẽ không cho phép vài cảm giác bất chợt, mơ hồ làm cô chán nản.
Đặc biệt không phải sáng nay, mà cô tự nhắc mình, là rất quan trọng với sự nghiệp của cô. Trong ba tháng vừa qua, cô đã nỗ lực để có được cuộc hẹn gặp với Peter Borsch, CEO mới của Huckabees, một chuỗi bán lẻ khổng lồ có vẻ sẵn sàng chiếm cả thế giới. Huckabees không quảng cáo trên tạp chí của cô, nhưng không có lý do nào chuyện đó không nên thay đổi. Với cô, đây là chuyện hiển nhiên. Nhưng cô lại là người duy nhất trong bộ phận tạp chí đã nghĩ đến chuyện tiếp cận Huckabees, một công ty mà hầu hết mọi người ở Splatch-Verner coi là “bình dân.” Tuy vậy, Nico không phải là kẻ hợm hĩnh, và cô đã có được một buổi gặp mặt, cô cũng đã phải v* v*n Peter hàng tuần liền, gửi thư viết tay cho anh ta, rồi các bài báo, sách vở cô nghĩ anh ta có thể quan tâm, bao gồm cả một bản cuốn Binh pháp bản in đầu tiên rất quý hiếm. Và cuối cùng, chỉ năm ngày sau, Peter đã đích thân gọi và đồng ý gặp cô.
Nico lấy hộp phấn bỏ túi ra và soi gương nhìn khuôn mặt được trang điểm. Sắp xếp một cuộc gặp thế này không hẳn là một phần trong công việc của cô (về mặt lý thuyết nó nằm trong phần việc của sếp cô, Mike Harness). Nhưng sáu tháng trước, Nico đã quyết định rằng cảm giác tồi tệ mà cô đang trải qua gần đây đơn giản là hậu quả của cảm giác bị kẹt cứng. Được làm tổng biên tập tạp chí Bonfire thì rất tuyệt vời, đầy k*ch th*ch và phấn chấn. Nhưng cô giữ vị trí này đã sáu năm rồi, từ hồi ba mươi sáu tuổi, khi cô trở thành tổng biên tập trẻ nhất trong lịch sử năm mươi năm của tạp chí này. Và không may là thành công cũng như sắc đẹp: Nó cũng không phấn khích gì mấy sau khi nó ở trong nhà được năm ngày, đi tất bẩn. Và vì vậy cô đã quyết chí mình sẽ thăng tiến trong công ty. Vị trí lớn nhất là CEO của Splatch-Verner. Nhưng để giành được việc đó, cô phải đoạt được vị trí ngay bên dưới nó đã, bằng cách trở thành người đứng đầu bộ phận tạp chí. Vật ngáng đường duy nhất là sếp của cô, Mike Harness. Ông này đã thuê cô sáu năm trước. Nhưng còn có một nguyên tắc này nữa: chưa một người phụ nữ nào giành được vị trí CEO ở bất kỳ bộ phận nào ở Splatch-Verner. Và đã đến lúc có người làm được việc đó.
Và cô định sẽ là người đầu tiên.
Chiếc Town Car chạy qua một khoảng trống có hàng rào thép gai bao quanh sân máy bay lên thẳng, và dừng lại cách chiếc máy bay trực thăng Sikorsky vài mét. Chiếc máy bay đang bình yên đậu trên sân. Nico ra khỏi xe và bắt đầu sải bước về phía máy bay. Tuy nhiên, trước khi tới nơi, cô đột nhiên dừng lại, ngạc nhiên bởi nghe tiếng một chiếc xe khác đang chạy đến phía sau cô. Cô quay đầu lại thấy một chiếc Mercedes màu xanh thẫm đang chạy vụt qua cổng.
Không thể nào, cô nghĩ, tức giận pha lẫn với khổ sở, và sốc. Chiếc Mercedes là của Mike Harness, CEO và chủ tịch Verner Publications. Đương nhiên cô đã nói với Mike về buổi gặp này - vài lần, thực tế là thế, và thậm chí còn gợi ý ông ta nên đến. Nhưng Mike đã chế giễu gạt bỏ ý tưởng này, khăng khăng rằng ông ta có chuyện làm ăn quan trọng hơn phải tham dự ở Florida. Việc ông ta không có mặt ở Floria và xuất hiện ở sân máy bay chỉ có nghĩa một điều: Ông ta đang cố cướp toàn bộ công lao dàn xếp cuộc gặp gỡ này.
Nico nheo mắt lại nhìn Mike ra khỏi xe. Mike, người cao ráo, mới ngoài năm mươi và nước da màu đồng không tự nhiên do sử dụng sản phẩm tự làm rám da quá nhiều, bắt đầu bước về phía cô với vẻ mặt bẽn lẽn. Không nghi ngờ gì ông ta biết cô khó chịu. Nhưng trong một tập đoàn như Splatch-Verner, nơi mọi thứ ta nói, làm, và thậm chí mặc rất dễ bị phán xét, việc không bộc lộ cảm xúc ra ngoài luôn là thứ bắt buộc. Nếu lúc này cô đương đầu với Mike, cô sẽ bị coi là đồ bỉ ổi. Nếu cô to tiếng, họ sẽ cho là cô bị thần kinh. Và rồi mọi người sẽ bàn tán chuyện cô đã mất nó như thế nào. Thay vào đó, cô chỉ nhìn Mike với một nụ cười hơi bối rối. “Tôi rất xin lỗi, Mike,” cô nói. “Ai đó chắc hẳn đã lên lịch nhầm. Trợ lý của tôi đã lên lịch máy bay trực thăng năm hôm trước cho cuộc gặp với bên Huckabees.”
Thế sẽ đá quả bóng sang lại sân của ông ta, cô nghĩ. Ông ta sẽ phải thừa nhận đang xía vào cuộc gặp của cô. “Sau tất cả những gì chúng ta đã bỏ ra để có được cuộc gặp mặt này, tôi quyết định mình nên đi cùng và đích thân gặp tay Borsch này,” Mike nói. Và rồi đi gặp Victor Matrick và bảo rằng ông ta đã tự mình thu xếp cuộc gặp này thế nào chứ gì, Nico nghĩ, im lặng giận dữ.
Cô gật đầu, mặt cô bình thường trở lại, hoàn toàn bình thản. Hành động dối trá của Mike thật là ghê gởm nhưng không có gì đáng ngạc nhiên. Thuần túy là công việc làm ăn như mọi khi với những giám đốc tại Splatch-Verner, nơi về cơ bản mọi thứ cứ chạy chừng nào ta còn thành công. “Thế đi thôi,” cô điềm tĩnh nói, và leo lên bậc thang vào máy bay. Khi ngồi xuống chiếc ghế da, cô nghĩ mình đã mất đến ba tháng để sắp xếp cuộc hẹn này với Peter Borsch thế mà chỉ trong ba phút Mike đã phá tan tành. Mike ngồi xuống cạnh cô, cứ như thể hoàn toàn không có chuyện gì xảy ra trên đời và nói, “Này, cô có nhận thư báo mới nhất của Victor không? Ông ta thực sự đang mất trí rồi nhỉ?”
“À, ừm,” Nico thờ ơ nói. Thư báo kia là một e-mail Victor Matrick đã gửi cho toàn bộ nhân viên liên quan đến chuyện rèm che cửa sổ. “Tất cả rèm che cửa sổ phải được kéo chính xác ra giữa mỗi cửa sổ, hay chính xác ba feet, bốn inch từ bậu cửa tính lên.” Như hầu hết các CEO, Victor, đã hơn bảy mươi tuổi hay có lẽ thậm chí tám mươi, kỳ quặc khét tiếng. Cứ vài tháng ông ta lại làm một chuyến đi không thông báo trước qua các hành lang tòa nhà Splatch-Verner, và kết quả là những thư báo này. Do tuổi tác và hành vi kỳ quặc của ông ta, gần như tất cả các giám đốc đều tin rằng Victor bị điên, và không thể tại chức lâu hơn nữa. Nhưng họ nói thế đã năm năm nay rồi, và Nico không nhất thiết phải đồng ý theo. Chắc chắn là Victor Matrick bị điên, nhưng không phải theo kiểu mà mọi người nghĩ.
Nico cầm một tờ Wall Street Journal lên và mở ra đánh tách một cái. Gần như các giám đốc hàng đầu ở Splatch-Verner đều nhắm vào vị trí của Victor, gồm cả Mike. Và một giám đốc chuyên gây rắc rối khác, Selden Rose. Selden Rose là chủ tịch bộ phận cáp, và dù ông ta với Wendy ở vị trí ngang nhau, Wendy luôn lo rằng Selden Rose đang cố bành trướng địa phận của mình và chiếm trọn bộ phận của cô. Nico không tin chắc về chuyện Seldon Rose. Nhưng ở một công ty như Splatch-Verner, bất cứ ai có quyền lực cũng có khả năng chống lại bạn chỉ trong một giây. Làm công việc hàng ngày của mình thôi không đủ, ta còn phải bỏ ra phần lớn thời gian để bảo vệ vị trí của mình trong khi ngấm ngầm lên mưu kế để thăng tiến.
Nico nhìn xuống tờ báo, vờ chăm chú vào một câu chuyện về kinh doanh bán lẻ. Cô đoán Mike không bao giờ tưởng tượng nổi chính cô muốn chức CEO của Splatch-Verner. Với những mưu đồ phức tạp và sức ép khổng lồ của nó, đó không phải là loại công việc mà hầu hết phụ nữ - hay đàn ông - h*m m**n. Nhưng Nico không xấu hổ với tham vọng của mình. Và hai mươi năm cuộc đời làm việc trong tập đoàn đã khiến cô tự tin rằng mình có thể làm bất cứ công việc nào không hề thua kém bất cứ người đàn ông nào - mà thậm chí còn tốt hơn.
Nhìn Mike mà xem, cô nghĩ, liếc sang ông ta. Ông ngả người về phía trước trên ghế, đang hét gì đó với viên phi công về thể thao qua tiếng ồn ầm ầm của động cơ mà viên phi công vừa mới khởi động lên. Trong tập đoàn đầy những người đàn ông như Mike - những người đàn ông không có vẻ thông minh hay thú vị xuất chúng gì, nhưng là người biết chơi trò chơi như thế nào. Họ biết đặt mình cùng với những người đàn ông quyền lực khác như thế nào. Họ luôn vui vẻ và trung thành. Họ là “đồng đội”. Họ tiến lên trên nấc thang tập đoàn nhờ vào việc biết phải hôn vào mông ai và hôn vào lúc nào. Nico thường nghi ngờ rằng Mike trở thành CEO và chủ tịch của Verner Publications là bởi vì ông ta luôn có cách lấy lòng được Victor Matrick. Ông này ám ảnh bởi đủ loại thể thao, thi đấu, và vé để đi tới tất cả các sự kiện thể thao lớn, mà đương nhiên Mike cũng thường tham dự.
Mike Harness không phải là người duy nhất biết cách chơi trò chơi. Cô nghĩ một cách cáu giận. Một vài năm trước, cô cảm thấy khó chịu với ý nghĩ cố đoạt lấy vị trí của sếp mình, đặc biệt một ông sếp như Mike, người nhìn chung là khá biết điều. Nhưng năm vừa qua, hành vi của Mike với cô đã thay đổi. Ban đầu thì khó thấy, phê bình lúc họp hành, rồi trắng trợn hơn, khi ông ta cố tình bỏ cô ra khỏi danh sách những người phát biểu tại cuộc họp toàn thể tập đoàn diễn ra hai lần một năm. Và bây giờ là chuyện này, cô nghĩ: cố đoạt cuộc gặp gỡ của cô với Huckabees - một cuộc gặp tự bản thân Mike sẽ không bao giờ có khả năng nghĩ ra nổi, mà thậm chí nếu có, thì sẽ không có khả năng thu xếp được.
Máy bay tròng trành rời khỏi mặt đất, và Mike quay lại với cô. “Tôi vừa đọc một câu chuyện về Peter Borsh và Huckabees trên tờ Journal,” Mike nói. “Đây là một cơ hội tốt. Borsch thực sự có thể trở nên có ích.”
Nico mỉm một nụ cười lạnh nhạt với ông ta. Bài báo xuất hiện cách đây hai ngày. Và sự thật rằng Mike sẽ biến việc này như là toàn bộ ý tưởng của ông ta khiến lòng cô tràn ngập sự khó chịu. Cô không còn tránh được tình huống hiện thực rằng Mike đang cố chèn ép cô. Trong vài tháng qua ông thậm chí còn cố sa thải cô. Việc ông ta xuất hiện vào sáng nay rõ ràng là một lời tuyên bố chiến tranh công khai. Từ giờ trở đi, hoặc là cô hoặc ông ta. Nhưng nhiều năm làm ở tập đoàn đã dạy cô phải biết che kín cảm xúc, không bao giờ để đối thủ biết mình đang nghĩ gì, hay mình đang định làm gì với họ nếu cần thiết. Cô gấp tờ báo lại và vuốt thẳng váy. Điều Mike không biết là cô đã đi các bước đánh bại ông ta rồi.
Một tháng trước, khi trợ lý của cô tìm ra được bản in đầu tiên của cuốn Binh pháp, cô đã đi gặp chính Victor Matrick để xin phép đặc biệt được chi trả cho cuốn sách, giá hơn một ngàn đô. Đương nhiên, cô đã phải giải thích tại sao cô cần cuốn sách và những nỗ lực của cô cho đến lúc bấy giờ. Và Victor đã khen ngợi cô có “phương án tiếp cận sáng tạo.” Trớ trêu là nếu Mike không bỏ tên cô ra khỏi danh sách diễn giả cho cuộc họp tập đoàn, chắc hẳn cô đã không xem xét việc đánh sau lưng ông ta. Nhưng không cho tên cô vào là một sự lăng mạ công khai khiến mọi người đã bàn tán hàng tuần trời trước và sau vụ đó. Nếu Mike muốn nghiền nát cô, lẽ ông ta phải khôn khéo hơn, cô nghĩ.
Nhưng Mike đã phạm một sai lầm. Và giờ tất cả những gì cô làm là giỡn chơi cùng ông ta. Nếu cuộc gặp với Huckabees diễn ra tồi tệ, sẽ là lỗi của Mike. Nếu nó diễn ra tốt đẹp, và Mike thực sự có đi tới gặp Victor, Victor sẽ ngay lập tức hiểu chuyện gì đang diễn ra. Không có gì qua được đôi mắt vàng xanh đáng sợ của Victor. Và Victor sẽ không thích cái việc Mike cư xử thấp hèn đến thế.
Những suy nghĩ này, cộng với việc khi nhìn thấy đường chân trời mờ ảo trước mặt, khiến cô cảm thấy con người chiến đấu ngày xưa của mình quay lại. Khi chiếc máy bay sà xuống thấp, qua những tòa cao ốc giống hệt một khu rừng những thỏi son môi, Nico cảm thấy một sự phấn khích gần giống với k*ch th*ch t*nh d*c, mà mỗi lần nhìn thấy cảnh bê-tông-và-sắt-thép quen thuộc cô đều cảm thấy thế. Thành phố New York vẫn là nơi tuyệt vời nhất trên thế gian này, cô nghĩ, và chắc chắc là một trong ít nơi trên thế giới mà những người phụ nữ như cô không chỉ sống sót được mà còn cai trị. Và khi chiếc máy bay sà xuống thấp trên Cầu Williamsburg, cô không thể ngăn mình nghĩ, “Mình làm chủ thành phố này.”
Hay trong bất cứ trường hợp nào, cô định như vậy, và sẽ chóng thôi.
***
Máy pha cà phê phát ra tiếng ùng ục thỏa mãn của một sinh vật đang đổ sạch phần ruột của nó đi khi phun nước qua lưới lọc xuống bình chứa.
Ngay cả cái máy pha cà phê của cô cũng hạnh phúc hơn cô, Victory chán chường nghĩ, rót chỗ chất lỏng đắng nghét vào một cái cốc trắng giản dị.
Cô hé mắt nhìn đồng hồ trên tường, không hẳn muốn nhắc mình mấy giờ rồi. Đã mười một giờ sáng và cô vẫn ở nhà, vẫn mặc bộ pyjama bằng lụa xanh Trung Hoa in hình những chú cún con ngộ nghĩnh. Bộ quần áo này có khi là một loại truyện hài nào đó của người Trung Quốc, cô nghĩ. Vì không có gì người Trung Quốc thích bằng việc ăn thịt người bạn thân nhất của con người.
Mà việc này cũng thích hợp đến trớ trêu, cô nghĩ, cho ba thìa đường to vào cốc cà phê. Trong ba tuần vừa rồi, cô có cảm giác mình đã ăn thịt chính mình. Ngoại trừ trong trường hợp của cô, cô đã bị khạc ra.
Cô đã cố thử làm gì đó mới mẻ, nhưng rồi mọi nỗ lực của cô đều bị từ chối. Thế giới là một nơi thật sự tàn ác.
Cô cầm cốc lên và lang thang ra khỏi bếp, qua phòng đọc với giá sách xây âm trong tường và chiếc tivi màn hình phẳng, qua hành lang, và xuống bậc thềm vào trong phòng khách chìm bên dưới với một lò sưởi đốt gỗ. Căn hộ này được đại lý môi giới nhà đất gọi là “một viên ngọc quý nhỏ,” và nhìn lên trần nhà cong cong dài mười hai foot, treo một chùm đèn pha lê Baccarat cổ tuyệt mỹ, cô tự hỏi mình còn đủ khả năng sống ở đây bao lâu nữa.
Công ty của cô bây giờ chính thức đang gặp khủng hoảng.
Một bậu cửa sổ dài chạy dọc chiều dài cửa sổ Pháp trông ra đường, và cô mệt mỏi ngồi xuống. Trong suốt hai tuần rưỡi qua, cô đã đi du lịch, rời khỏi thành phố ba ngày sau show diễn tệ hại khủng khiếp của mình. Và trên chiếc bàn ăn bằng gỗ d** ngựa nhỏ vẫn chất gọn gàng những tờ báo phê bình show diễn của cô. Giới phê bình không tử tế. Gần một tháng đã trôi qua, nhưng cô vẫn nhớ từng lời gay gắt: “Không thành công,” “Lạc lối,” “Đáng thất vọng,” và tệ hơn, “Ai mà sẽ mặc những thứ quần áo này cơ chứ, mà nếu có, thì họ sẽ mặc ở đâu?” và rồi cú đá: “Victory Ford là người làm giải trí chứ không phải là một nhà thiết kế thời trang. Một sự thật đã trở nên rõ như ban ngày với bộ sưu tập mới nhất khi cô nỗ lực thiết kế thời trang cao cấp...” - những từ ngữ đó cứ ám vào cô như một mùi hôi. Cô biết rất nhiều nghệ sĩ không đọc bài phê bình tác phẩm của họ, nhưng Victory không làm thế được. Cô không thể cho phép bản thân quay lưng khỏi hiện thực phũ phàng. Biết sự thật và đối diện với nó thì tốt hơn. Lẽ ra cô nên vứt hết đống phê bình đó đi, nhưng cô giữ chúng lại cùng những bài báo khác về mình, và ngày nào đó cô sẽ đọc lại chúng và bật cười. Và nếu cô không cười nổi, thì cũng không có gì quan trọng, vì cô sẽ không là một nhà thiết kế nữa. Và nếu cô không phải là nhà thiết kế, thì cũng không có gì quan trọng, vì cô sẽ chết.
Cô vừa nhìn ra ngoài cửa sổ vừa thở dài. Có lẽ cô đã già quá rồi nên không thể nhìn thế giới này theo hai màu đen trắng nữa, không thể vẫn tin rằng nếu cô không thể là một nhà thiết kế thời trang, thì thà chết còn hơn. Nhưng cô đã cảm thấy như thế suốt cả đời mình, từ giây phút khi cô tám tuổi và ngồi trong phòng đợi ở một phòng khám nha sĩ, cầm tờ Vogue lên lần đầu tiên (nha sĩ của cô, sau này cô nhận ra, chắc hẳn là nữ tính hơn cô tưởng nhiều). Và nhìn vào các trang thời trang đó, đột nhiên cô như được chuyển sang một thế giới khác - một nơi dường như có vô số những khả năng, nơi mọi thứ ta tưởng tượng đều có thể xảy ra. Và rồi cô tiếp tân đã gọi tên cô. Và cô đã nhìn lên, giật bắt mình khi thấy mình ngồi trên chiếc ghế nhựa xanh trong một phòng nhỏ với bốn bức tường màu vàng đất. Và mọi chi tiết trong căn phòng đều to phồng lên và cô ngộ ra. Đột nhiên cô thấy mình sinh ra để làm việc gì. Cô sẽ là một nhà thiết kế thời trang. Đó là định mệnh của cô.
Dĩ nhiên, cô là một kẻ dở hơi, nhưng hồi đó cô không biết điều đó. Hồi đó khi còn nhỏ, và hàng sau năm sau, cô đã cho rằng mọi người đều giống cô - và giống cô, họ biết chính xác mình sinh ra là để làm gì với cuộc đời mình. Ngay cả khi lên mười, cô nhớ mình đã mạnh bạo bảo với những đứa trẻ khác rằng cô sẽ là một nhà thiết kế thời trang, ngay cả khi cô không hề có ý niệm bằng cách nào để làm được thế hay nhà thiết kế thời trang thực sự làm gì...
Và có lẽ sự ngu ngốc thời thanh xuân là một thứ tốt lành, cô nghĩ, đứng dậy và bước đi bước lại trên tấm thảm Oriental trước lò sưởi. Nó đã cho phép cô mạnh bạo theo đuổi giấc mơ điên rồ của mình, theo những cách mà bây giờ cô sẽ không dám làm.
Cô lắc đầu, thân thương nhớ lại những ngày mới ở New York. Khi đó mọi thứ mới mới mẻ lắm sao, và thật phấn khích. Cô có rất ít tiền, nhưng cô không sợ - chỉ có một nơi duy nhất để đi, và chỉ có thế. Ngay cả từ những ngày đầu tiên ở New York, thành phố này đã có vẻ thông đồng với giấc mơ của cô. Mới tám tuổi, cô chuyển tới New York học ở F.I.T[1]. Và một ngày - là một ngày đầu thu, thời tiết vẫn hơi ấm nhưng đã có hơi thở của mùa đông trong không khí, một ngày giống như hôm nay - cô đi tàu điện ngầm và một phụ nữ hỏi cô đã mua cái áo khoác cô đang mặc ở đâu. Victory nhìn mái tóc phẩy lai và bộ vest mặc-vì-thành công của người phụ nữ, mặc cùng với sơmi có cà vạt may nhỏ may liền, hồi đó đang là mốt, mà mạnh dạn nói rằng, “Nó là của tôi. Tôi là nhà thiết kế thời trang.”
[1] Học viện thời trang danh tiếng nhất nước Mỹ.
“Nếu cô là nhà thiết kế thời trang,” người phụ nữ nói, như thể bà ta không tin cô (và tại sao bà ta phải tin cơ chứ, Victory nghĩ - cô gầy gò và ngực phẳng như một thằng con trai, và trông còn trẻ hơn cái tuổi mười tám rất nhiều) - thì cô nên đến gặp tôi.” Người phụ nữ mò mẫm trong chiếc túi Louis Vuitton của mình (Victory không bao giờ quên được chiếc túi đó - cô nghĩ nó rất hợp thời trang.) và đưa cho cô một tấm thiếp. “Tôi là người chuyên nhập hàng ở cửa hàng thời trang. Đến gặp tôi lúc mười giờ sáng thứ Hai và mang theo bộ sưu tập của cô.”
Victory không có bộ sưu tập nào cả, nhưng cô sẽ không để chuyện đó ngáng đường mình. Việc gặp gỡ kỳ diệu với người phụ nữ kia - Myrna Jameson là tên bà ta - đã xảy ra lúc năm giờ chiều thứ Tư. Đến tám giờ rưỡi sáng ngày thứ Hai (cô chỉ có đủ thời gian để tắm một cái rồi đứng dậy đi tới Garmen District lúc mười giờ), Victory đã có bộ sưu tập đầu tiên gồm sáu món đồ, bao gồm cả cái áo khoác. Cô dành toàn bộ năm ngày và toàn bộ tiền thuê nhà - 200 đô - để vẽ thiết kế, mua vải, và may từng mẩu lại bằng chiếc máy may bố mẹ đã tặng cô làm quà tốt nghiệp. Cô làm việc suốt ngày đêm, tranh thủ vài tiếng ngủ trên chiếc sofa cũ nát mà cô lấy từ ngoài phố về. Hồi đó thành phố rất khác - nghèo và đổ nát - được giữ cho sống chỉ nhờ bởi sự quyết tâm cứng cỏi và sự hoài nghi lạnh lùng của những người dân cư ngụ của nó. Nhưng bên dưới lớp đất là chủ nghĩa lạc quan màu hồng với những khả năng. Và trong khi cô làm việc, cả thành phố dường như hồi hộp theo cô. Cô cắt và may trên nền tiếng còi ô tô trộn lẫn với tiếng gào thét và tiếng nhạc vô tận từ các radio. Khả năng thất bại chưa bao giờ nảy ra trong tâm trí cô.
Myrna Jameson là người nhập hàng vào cho Marshall Field’s, cửa hiệu mua sắm Chicago nổi tiếng, và văn phòng của bà nằm ở một tòa nhà rộng thênh thang trên Đại lộ 7 và Phố 37. Garment District giống như một khu chợ Ả Rập. Đường phố đầy những cửa hàng nhỏ chứa đầy vải vóc, đồ may, cúc, féc-mơ-tuya và quần áo lót phụ nữ. Những chiếc xe tải nằm chờ xả khói vào không khí trong khi công nhân đẩy từng cuộn vải và lông qua đám đông đầy người. Dân móc túi, người đi đường, và gái đ**m chầu chực ở cửa lối vào tòa nhà. Còn Victory ôm chặt cái túi đựng bộ sưu tập có sáu món đồ vào ngực, tưởng tượng đến cảnh trớ trêu sau khi làm việc chăm chỉ đến thế để rồi lại bị cướp sạch.
Văn phòng của Myrna Jameson gồm hai phòng nằm ở giữa một hành lang dài, ảm đạm, sàn có vải sơn lót. Trong phòng đầu tiên có một phụ nữ trẻ với khuôn mặt như một con ong đang tức tối, móng tay dài đang bấm điện thoại lách tách. Văn phòng của Myrna nằm sau cánh cửa mở toang kia. Victory có thể thấy một cái chân đi bít tất dài đen bó sát trong một cái giày cao gót mũi nhọn đen thanh lịch. Myrna là người phụ nữ có sự nghiệp tử tế đầu tiên mà Victory từng gặp. Và hồi đó, những phụ nữ có sự nghiệp không bị buộc phải tỏ ra hòa nhã. Myrna ra khỏi văn phòng và nhìn Victory từ đầu đến chân. “Vậy là cô có đến,” bà ta nói, bằng một giọng the thé. “Xem cô có gì cho tôi nào.”
Năm đêm liên tục không ngủ đột nhiên phát huy tác dụng, và Victory suýt òa khóc. Lần đầu tiên, cô nhận ra rằng Myrna có thể không thích bộ sưu tập của cô. Và ý nghĩ thất bại mới đau đớn làm sao. Sự tủi hổ có thể làm cô tê liệt. Nó có thể giam hãm toàn bộ cuộc đời cô. Nếu cô cứ tiếp tục và thất bại mãi thì sao? Cô sẽ phải quay về nhà và làm việc tại một tiệm photo,” ông nói. “Ai sẽ mặc nó ở Minnesota cơ chứ?”
“Howard, tôi là người ở Minnesota. Tôi đang cố thoát khỏi miền Trung Tây...”
“Để làm gì? Để cô có thể có vài bức ảnh đẹp trên Vogue? Ảnh đẹp không giúp bán quần áo, cô biết đấy. Cần thứ gì đó để mặc vào tối thứ Bảy với người yêu của cô. Đấy mới là thứ giúp bán được quần áo. Mà cũng không được hở hang quá. Đàn ông muốn thấy bạn gái mặc đồ vừa đẹp vừa kín đáo...”
“Tôi thực sự muốn thấy quần áo của tôi trên Vogue,” cô dữ dội rít lên. “Và tôi sẽ làm thế, tôi hứa với ông...”
Rồi Howard nhoài tới, bao phủ cả hai bằng cái mùi đặc trưng của ông, và mỉm cười. Răng ông ta xám xịt với lợi trắng nhởn, như thể ông ta chẳng buồn đánh răng. “Cô đã bao giờ nhìn thật kỹ những nhà thiết kế trên Vogue chưa?” ông hỏi. “Halston, Klein... ngay cả Scaasi, từng là Isaacs nhưng quyết định đánh vần tên mình ngược lại... dân Do Thái cả đấy. Cô đã bao giờ thấy một nữ thiết kế ở đó chưa? Không có đâu. Đó là bởi vì khi liên quan tới ngành thời trang, hay bất cứ cái gì quan trọng... điện ảnh, kiến trúc, hội họa - tất cả những người giỏi nhất đều là đàn ông. Và còn có một lý do cho chuyện đó...”
Howard không bao giờ nói cho cô biết lý do này là gì, một cách rõ ràng, và cô cũng chả bao giờ hỏi. Cô không muốn nghe câu trả lời của ông ta.
Thay vào đó, cô thầm nguyền rủa ông ta và quay lại tiếp tục vẽ. Một ngày nào đó... cô nghĩ. Và cô tự nhủ rằng nếu cô giúp cho Howard kiếm đủ tiền, có lẽ ông ta sẽ đi và để cô yên.
Rồi một ngày ông ta làm thế thật. Buổi sáng hôm đó ông không xuất hiện, và cuối cùng có mặt vào lúc bốn giờ chiều. Việc này tiếp tục trong vài tuần, và Victory vô cùng biết ơn không phải gặp gỡ ông ta hàng ngày đến nỗi cô không buồn hỏi tại sao. Nhưng cô nhận thấy dù cô làm việc muộn thế nào, Howard cũng luôn có mặt ở văn phòng khi cô về.
Vài tuần sau cô tình cờ gặp Myrna Jameson trên phố. “Vậy là tôi thấy Howard đã đưa đồ của cô vào Dress Barn,” bà ta nói.
Victory ngạc nhiên nhìn bà ta, lắc đầu và nghĩ chắc hẳn Myrna nhầm.
“Chắc phải là cửa hàng mua sắm nào đó. Có lẽ là Bloomingdale’s...”
“Cưng ơi,” Myrna cười hô hố, cầm lấy cổ tay Victory. “Tôi biết đồ của cô. Dù ở đâu tôi cũng nhận ra mẫu thiết kế của cô. Đó là nghề của tôi mà, không nhớ sao?”
“Nhưng không thể thế được,” Victory phản đối.
Myrna giơ tay lên ngăn lại. “Tôi biết mình thấy gì. Tôi đến Dress Barn ở Five Town hôm Chủ nhật rồi và họ có cả một giá treo toàn váy giống hệt đồ của cô. Thậm chí họ còn có cả găng tay đăng ten với nơ bằng nhung... Thế cái công ty mới mà Howard khởi sự ở số 1411 đối diện là sao đấy?”
Victory đờ đẫn lắc đầu. Ở Garmen District, mọi người chỉ dùng số khi nhắc đến các tòa nhà, và số 1411 Broadway là tòa nhà bình dân nhất trong khu vực. Rất nhiều vải vóc quần áo được bán đấu giá cho các nhà bán lẻ dây chuyền thương mại như nô lệ. Tòa nhà này là đứa con ghẻ xấu xí của ngành đến nỗi không ai muốn nói về nó. Lòng cô tràn ngập cảm giác sợ hãi. Cám ơn Myrna xong, cô chạy băng qua đường, tránh xe cộ. Không thể thế được, cô nghĩ. Ngay cả Howard cũng không ngu đến nỗi lén bán đồ của cô ở 1411. Như thế sẽ hủy hoại tên tuổi của cô và đầu tư của ông ta, và không hợp lý chút nào. Cô đã kiểm tra bảng kiểm kê hàng trong kho tháng trước, và không có gì có vẻ sai cả...
Không thể thế được, cô nghĩ, cố gắng trấn an mình.
Sảnh tòa nhà 1411 ngập ngụa dầu mỡ từ hàng nghìn túi đồ mua mang về được chuyển vào hành lang từ bảy mươi năm qua. Trên tường là danh sách các công ty trong tòa nhà, nhưng Victory không biết mình đang tìm cái gì. Howard có thể đặt bất cứ cái tên nào cho công ty mới của ông ta. Và ông ta chắc là đủ thông minh để không dùng chính tên mình. Cô quyết định đi thẳng lên tầng hai nơi diễn ra đấu giá. Và quả đúng như cô đã sợ, giữa căn phòng thênh thang đầy những giá quần áo đang đợi đến lượt đem ra bán, cô tìm thấy hai giá đồ nhái y hệt thiết kế của cô. Cô vừa sờ chất vải vừa run lẩy bẩy - sự khác biệt chỉ nằm ở chỗ những bộ quần áo này được may bằng chất liệu rẻ tiền sẽ tung hết cả ra sau ba bốn lần mặc và sẽ co lại khi là khô. Cô lật đường viền lên và thấy mũi may không đều và còn chưa may xong. Rồi cô xem nhãn hiệu. Trademark của cô là một hình vuông màu hồng có chữ “Victory Ford” khâu bằng mấy chữ cái lởm chởm không đều. Nhãn hiệu trên đám đồ nhái rẻ tiền này cũng gần giống như vậy, khác biệt duy nhất là ở tên thật, viết là “Viceroy Fjord.”
Cô thả bộ váy xuống như thể nó bị nhiễm bệnh, và lùi lại, kinh hoàng lấy tay che miệng.
Cô cúi gập người đau đớn. Ông ta thậm chí còn không buồn đổi cái tên. Hẳn ông ta nghĩ cô là một con ngốc. Ông ta thực sự nghĩ cô sẽ để cho ông ta thoát vụ này à? Rõ ràng là ông ta nghĩ thế. Ông ta chắc hẳn nghĩ cô là một con nhóc ngu xuẩn làm bất cứ điều gì ông ta muốn, một người ông ta lợi dụng và tước đoạt và rồi vứt bỏ mà không gặp bất cứ hậu quả gì.
Ông ta hơi bị nhầm đấy.
Đột nhiên cô giận điên lên. Ông ta đã cướp đứa con của cô, và cô sẽ giết ông ta. Không. Cô sẽ nghiền nát ông ta trước, rồi giết. Chơi cô một vố là một chuyện, cô quyết định, nhưng chơi việc làm ăn kinh doanh của cô là việc khác.
Những cảm xúc này hoàn toàn mới vẻ với cô. Cô không hề biết mình có thể nổi giận đến thế. Như thể được hoa tiêu dẫn đường tự động, cô quay lại sảnh, tìm thấy tên “công ty mới” của ông ta, và tiến thẳng đến cửa. Howard đang ngồi gác chân lên cái bàn sắt, nhét gì đó có vẻ toàn là vụn bánh vào miệng, và nói chuyện điện thoại. “Cái gììì?” ông ta nói, như thể phát cáu vì bị cô làm gián đoạn.
“Đồ ch* đ*!” cô hét lên từ tận lồng ngực mình, vơ tờ báo trên bàn của ông ta và ném xuống sàn.
“Cái quái gì,” ông ta gào lên, và nói vào ông nghe, “tôi gọi lại sau.”
“Sao ông dám?” cô hét lên, tiến thẳng về phía ông ta như thể chuẩn bị đánh ông ta đến nơi, và ước gì mình là đàn ông để có thể đánh được. “Tôi thấy đống quần áo kia rồi. Ở tầng hai...” Nhưng trước khi cô kịp nói tiếp, ông ta nhảy dựng lên và cắt lời cô. “Sao cô dám?” ông quát lại, chỉ vào cô như thể ông ta là bên bị hại. “Cô đừng có mà bước chân đến văn phòng tôi mà hét lên một lần nữa.”
Việc ông ta tự bênh vực chính mình khiến cô bị sốc. Và cô há rồi ngậm miệng lại, đột nhiên không biết phải nói gì.
“Tôi thấy mấy bộ đồ đó...”
“Ừ? Rồi sao?” ông nói, cúi xuống nhặt tờ báo. “Cô thấy vài bộ đồ. Rồi cô đến đây, hét lên như một con điên...”
Cơn giận của cô lại bùng lên. “Ông ăn cắp thiết kế của tôi,” cô hét. “Ông không được phép làm thế. Ông đừng có mà lừa tôi.”
Ông ta nhăn mặt vẻ ghê tởm. “Cô điên rồi. Ra khỏi đây.”
“Ông không thể làm thế!”
“Không thể làm gì?” Ông ta nhún vai khinh miệt. “Ngành này tất cả chỉ là nổi đóa. Cô phải bình tĩnh và tiếp tục như không có chuyện gì xảy ra và cô không bị tổn thương và mọi thứ rồi sẽ ổn.
Cô sẽ phải gọi cho ông Ikito. Nhưng cô sẽ nói gì đây?
Cô sẽ không để cho tác phẩm của mình bị kẻ khác tước đi và làm lại như thể cô là một kịch bản gia Hollywood nào đó. Cô sẽ không để bị đùa bỡn như thế. Và nếu tin này lọt ra ngoài rằng cô đã không thiết kế dòng sản phẩm ở Nhật, nó sẽ phá hủy chữ tín mà cô đã phải nỗ lực rất ghê gớm để đạt được. Đây là giới hạn, và cô sẽ không bước qua. Đây là vấn đề của lòng danh dự. Và trong một thế giới nơi còn rất ít lòng danh dự trong bất cứ nghề nghiệp nào, ta phải bảo vệ vài thứ ít ỏi đích thực và đúng đắn còn lại.
Mất đi nguồn thu nhập từ nước ngoài sẽ làm tổn hại thật sự tới công ty, nhưng cô sẽ không cứ thế mà chấp nhận. Sẽ có giải pháp. Ông Ikito sẽ phải chấp nhận mẫu thiết kế của cô hoặc thôi luôn, và lẽ ra cô phải nói với ông ta như thế ngay từ lúc đầu.
Cô cầm điện thoại lên gọi cho ông ta. Và đúng lúc đó, cô nhìn thấy Giải thưởng CFDA Perry Ellis, được đặt một cách tự hào trên giữa bệ lò sưởi. Giải thưởng này đột nhiên khiến cô nghĩ thêm một lần nữa. Đó là lời nguyền, cô điên cuồng nghĩ. Lời nguyền cuối cùng đã tìm được cô. Giải thưởng Perry Ellis là giải thưởng đáng h*m m**n nhất trong ngành thời trang, được trao hai năm một lần cho nhà thiết kế trẻ triển vọng nhất để vinh danh Perry Ellis, người đã chết vì bệnh AIDS vào cuối những năm 1980. Đạt được giải thưởng này tạo nên sự nghiệp cho nhà thiết kế trẻ, đưa anh ta hay cô ta vào tâm điểm chú ý. Nhưng cũng có tin đồn về mặt trái của nó: Vài nhà thiết kế giành được giải thưởng này đã bị sập tiệm. Là một trong rất ít phụ nữ từng đạt giải thường này, cô đã đùa rằng là một phụ nữ cho phép cô thoát khỏi lời nguyền đó. Nhưng cuối cùng có lẽ điều đó không đúng - và đột nhiên cô thấy cuộc đời trải ra phía trước mặt mình. Cô trên đà xuống dốc. Hai mùa tiếp theo phản ứng của công chúng sẽ y hệt như mùa xuân. Những đơn đặt hàng của các cửa hàng sẽ giảm dần. Mọi người sẽ thôi không mua quần áo của cô nữa. Trong một năm rưỡi cô sẽ phá sản và ra ngoài đường. Và cô sẽ phải quay về quê, độc thân, và thất bại ở tuổi bốn mươi ba...
Điện thoại trong tay cô đột ngột đổ chuông và cô giật bắn cả mình, vội vàng nhấn nút nghe. Giọng phụ nữ ở đầu dây bên kia nghe rất lạ. “Cô Victory Ford à?” cô ta hỏi.
“Vâng tôi đây,” Victory thận trọng nói, nghĩ chắc là người mua bán hàng qua điện thoại.
“Xin chào, tôi là Ellen từ văn phòng của Lyne Bennett.” Cô ta dừng lại, như thể để người nghe tiếp nhận được thông tin rằng nhà đại tỷ phú Lyne Bennet đang gọi, và Victory suýt phá lên cười. Vì lý do quái quỷ gì mà Lyne Bennett lại gọi cho cô nhỉ? Cô băn khoăn. “Tôi biết chuyện này khá bất ngờ, nhưng ông Bennett tự hỏi liệu cô có thể gặp ông vào tối thứ Năm tuần này vào lúc sáu giờ được không?”
Lần này thì Victory cười thật. Loại đàn ông gì mà lại sai thư ký mời người khác đi hẹn hò hộ mình? Nhưng cô không được đi đến kết luận vội vàng. Có lẽ không phải là một cuộc hẹn hò - cô đã gặp Lyne Bennett vài lần mấy năm qua và ông ta chưa bao giờ để ý tới cô. “Cô có phiền nếu tôi hỏi tại sao không?” cô nói.
Ellen nghe có vẻ xấu hổ và ngay lập tức Victory thấy tội nghiệp cho cô ta. Làm cái nghề khổ thật. “Tôi nghĩ ông ấy... muốn biết thêm về cô. Tôi chỉ biết là ông ấy bảo tôi gọi cho cô và xem cô có gặp ông ấy không.”
Victory nghĩ trong một giây. Những người đàn ông giàu như Lyne Bennett chưa bao giờ quan tâm tới cô cho lắm. Nhưng mặt khác, cô cũng không phải là loại bị họ cuốn hút. Cô quá hoang dã và thẳng thắn để mà chơi trò săn một chú giàu có. Và cô chưa bao giờ tin cái ý tưởng rằng tiền của một người đàn ông giàu có là giải pháp cho những khó khăn của một phụ nữ. Bằng việc Lyne Bennett đã bận tâm tìm cô, nghĩa là ông ta có thể khác biệt. Và căn cứ vào tình huống hiện tại của mình thì tỏ ra thân thiện cũng chả mất mát gì.
“Tôi sẽ rất vui được gặp ông ấy, nhưng tôi phải đến buổi khai mạc của Whitney Biennial thứ Năm này,” cô nói. “Tôi không biết liệu ông Lyne Bennett có thích hội họa không...”
“Ông ấy rất thích,” Ellen nói, nghe có vẻ nhẹ nhõm. “Ông ấy có một trong những bộ sưu tập quan trọng nhất trên thế giới...”
Victory mỉm cười, tự hỏi mình đang nghĩ gì. Đương nhiên là Lyne Bennett “thích” hội họa. Ông ta là tỷ phú mà, đúng không? Và điều đầu tiên mà đàn ông làm khi họ có tiền (dĩ nhiên là sau khi hẹn hò với siêu mẫu) là đánh bóng những rìa ngoài thô ráp về nghệ thuật và văn hóa của mình .
Victory gác máy, đột nhiên thấy hưng phấn. Cô nghĩ cú điện thoại của Lyne Bennett là một tín hiệu cho thấy có gì đó sắp sửa đổi thay. Thứ gì đó mới mẻ và thú vị sắp sửa xảy ra - cô có thể cảm nhận được nó. Cô tự tin nhìn chiếc điện thoại và nhấn số gọi sang Nhật.
💬 Bình luận chương