Người dịch: Văn Hòa - Kim Thùy
Nhà xuất bản: NXB Thanh Niên
ám sát Đức Hồng y ở Li Băng.
Trong căn phòng nhìn ra quảng trường trải dài nằm sau điện Pantheon tại thành phố La Mã, hắn cẩn thận sửa soạn tấm thảm cầu nguyện hướng về phía Mecca. Cởi đôi giày được hắn thuê thợ đóng đặc biệt ra, đôi giày hắn rất quý trong cuộc sống đạm bạc của hắn, hắn quỳ xuống và cúi người lạy ba lần, mỗi lần hắn đều để cho trán chạm đất. Hắn bắt chước cha hắn trong cách cầu nguyện, giọng cầu nguyện trầm nhưng rõ ràng, mạnh mẽ.
— Lạy Đấng Ala, vị chúa tể trần gian, vị Đại trí Đại từ, vị Pháp quan tối cao phán xét cuối cùng, xin Ngài chứng giám cho lòng thành của kẻ tôi tớ Ngài. Chúng con chỉ thờ phượng Ngài. Chúng con chỉ xin Ngài giúp đỡ. Xin Ngài chỉ cho chúng con con đường giải thoát.
Hắn trích lời đọc trong bộ kinh "Ummul Quran", Bản Thể của kinh Koran, những lời cầu nguyện thiêng liêng nhất mà kẻ ngoại đạo Hồng y ở Li Băng kia đã dám gọi là lời nguyện cầu Chúa của dân Hồi giáo. Thằng cha quỷ sứ kia đã nói như vậy trong lời kêu gọi liên minh tôn giáo của hắn.
Khi Al Najaf đã đọc xong bảy câu thơ, hắn dừng lại. Bằng giọng thật trầm, hắn cầu nguyện tiếp :
— Nhân danh Đấng Ala. Bậc Đại Nhân, Đại Từ. Alif, Cam, Mim.
Một lần nữa hắn dừng lại sau khi đã đọc ra ba chữ trong mẫu tự Ả Rập có ý nghĩa biểu lộ sức mạnh thần bí ấy. Thế rồi hắn tuôn ra một hơi :
— "Xin Ngài hướng dẫn bàn tay kẻ tôi tớ của Ngài để bàn tay quý giá của Ngài bịt mõm kẻ thù của Ngài khỏi phát ngôn độc địa cố làm dơ bẩn sự thanh khiết của Ngài".
Al Najaf nằm sấp một hồi lâu, nhắm hai mắt, trong đầu nhớ lại cảnh đi hành hương của hắn đến thánh địa Mecca, hắn đã quỳ với hàng triệu người khác truớc Thánh thất, đã nguyền rằng thà chết chứ không chịu để cho quyền năng của Ngài suy giảm. Khi hắn cầu nguyện ở đấy, hắn đã cảm thấy chắc chắn Đấng Ala đang nghe lời hắn, như các vị tu sĩ Hồi giáo đã hứa chắc chắn như vậy.
Bây giờ, khi hắn nặng nề đứng dậy và cuốn tấm thảm cầu nguyện lại, hắn lại càng tin chắc như thế. Đấng Ala đã muốn tên ngoại đạo Hồng Y kia phải chết. Đúng là sự trừng phạt mà kinh Koran đã nói đến.
Al Najaf bước quanh trong phòng khách, từ đây hắn có thể nhìn thấy những tháp hình đụn, hình xoắn ốc, những tháp có mái vòm của La Mã. Người hắn to lớn nặng nề, có dáng đi rất kỳ dị. Chân hắn như có gắn lò xo. Mặt hắn trơn tru từ trán cho đến cằm, trông hắn có vẻ hiền từ chân chất.
Suốt nhiều năm trôi qua, vẻ người hiền lành đã giúp cho hắn hoạt động dễ dàng. Khi hắn di chuyển không mấy ai nghi ngờ. Rồi một năm nay, Raza báo cho hắn biết bọn Do Thái đã lên án tử hình hắn. Từ đó, hắn phải cẩn thận khi hoạt động. Nhưng vì vụ này quá phức tạp khiến hắn phải ở lại La Mã lâu hơn là hắn mong muốn. Như thế rất nguy hiểm vì có khả năng người Do Thái sẽ phát hiện ra hắn. Nhưng cũng như mọi khi, hắn đã chọn cách che giấu để giảm thiểu tối đa sự nguy hiểm đi.
Căn phòng làm ra vẻ là nơi ở của một nhà báo nước ngoài đi làm phận sự thuê ở tạm. Từng chồng báo chí chất khắp phòng. Trên bàn có một máy chữ đánh tay, nằm khuất một nửa dưới những ấn bản báo chí. Một máy in vô tuyến thuê để đưa tin kê trong một góc phòng, đang chạy rào rào thừa nhận à ?
— Không. Tôi không chấp nhận loại tin như thế. Mỗi lần nó báo cáo là lúc ở trên đường đí. Nó tinh khôn và nhanh nhẹn, nó sẵn sàng đổi hướng bay giữa đường nếu ông chủ nó ra lệnh.
— Còn con kia thì sao ?
— Cũng không biết rõ hơn.
Morton nhìn ra ngoài cửa sổ. Mấy bánh xe đã hiện ra duới hai cánh chiếc Concorde.
— Con vịt con xấu xí của chúng ta kìa - Danny nói nho nhỏ.
Không phải con vịt con đâu, mà là con chim cắt, Morton nghĩ thế. Cái mũi khoằm ấy trông ác liệt lắm đấy. Tel Aviv đi Luân Đôn rồi trở về chưa đầy năm giờ. Trọng tải gần hai trăm nghìn ký mà bay với vận tốc gần bằng vận tốc viên đạn, từ đây đến Jerusalem trong ba mươi giây.
Từ khi họ có mặt ở đây, người viên chức hãng tống táng El Al nói đủ thứ chuyện với họ. Ai cũng cố xua đuổi cảnh chết chóc đi.
Morton nhìn Danny.
— Raza chắc đã dùng hộp phát âm đấy. Chắc hắn ngồi ở Beirut truyền lệnh đi mà thôi.
— Có thể hắn làm thế, nhưng chắc chắn là máy Elint và Comint đã thu được lời hắn từ văn phòng của hắn ở Beirut truyền đến khu vực nào đấy quanh Kabul.
— Hắn nói gì ?
— Chỉ là lặp lại chuyện về Đấng chí tôn nhận lại người đàn bà ấy với nước hoa của nó.
Danny liếc mắt nhìn Morton. — Anh có nghĩ là chúng có thể đã ướp nước hoa vào vi rút để đánh lừa người ta không ?
Morton nhìn chằm chằm vào mặt Danny.
— Anh có thể đã thấy được vấn đề rồi đấy. Người đàn bà ở Nairobi đã nói đến nước hoa. Nó có thể đã mang vi rút bệnh than vào Trekfontein trong một chai nước hoa. Con đàn bà ấy có thể đã làm thế để khỏi bị nghi ngờ. Có thế vì thế mà nó đã nói nước đã pha nước hoa. Chúng ta lại còn biết là Raza dùng phụ nữ nhiều hơn bất cứ tên kh*ng b* nào khác. Phải chăng hắn đã phái một con nào sắp thả nhiều vi rút và bỗng đã xảy ra chuyện gì đây ? Có thể con ấy đã bị chết trong một tai nạn hay là bị giết rồi ? Và nó đã mang theo vi rút bên mình. Thế mới đúng với ý nghĩa câu Đấng chí tôn đã đem cô ta về... và đem theo cả vi rút bệnh than luôn.
Danny lắc đầu. — Nếu Bitburg nghe anh nói, mắt ông ta chắc nổ luôn ! Rồi tìm đâu cho ra con mắt như thế. Và chúng ta biết nhìn ở đâu đây ?
— Nhân viên của anh cho biết cuộc gọi xuất phát đâu đó trong vùng cách Beirut năm trăm dặm. Cũng đáng lạ lắm. Chúng ta chắc là phải nơi nào gần hơn.
— Chắc nguồn gọi đi vẫn có thể là ở khu vực quanh Kabul. Cách phía đông Beirut chưa đầy năm trăm dặm - Danny nói.
— Thì chắc chắn là thế. Nhưng linh tính cho tôi biết chúng ta nên lục soát ở phía Tây Beirut. Bây giờ hắn đang hoạt động đấy, Raza đang nôn nóng hành động đấy. Tôi đoán chắc là hắn ở đâu đó tại châu Âu.
Một viên chức bước đến, mặt đầy trang trọng :
— Ngài có muốn vào xem đưa hòm xuống không ?
— Không, xin cám ơn anh.
Người kiểm soát không lưu hướng dẫn chiếc Concorde sơn màu trắng hạ cánh xuống đất. Giới báo chí đặt tên cho chiếc máy bay là bồ câu. Hiện tại, nó được dùng hầu hết thì giờ để chở những nhà lãnh đạo Israel đi Liên Hiệp Quốc để bàn thảo về việc dàn xếp hòa bình. Morton lại nghĩ khác. Chiếc Concorde trông giống một con cò hơn, với cặp chân dài đang chạy trên đường băng.
Người viên chức vẫn đứng yên bên cạnh ông : — Hầu hết thân nhân của người đã khuất đều muốn nhận các quan tài khi người ta mới đem ra khỏi máy bay.
Morton nhìn anh ta. Trông hắn gớm ghiếc quá, một gã nông dân đã được bố trí làm một công việc nhàn nhã. Việc bố trí lại công việc thật tức cười. Một thư ký của Bitburg đã đi lái tàu hỏa ở Nga. Gã viên chức này lại còn kỳ hơn nữa. Morton đáp :
— Tôi thích ở đây.
— Dạ tốt, tốt thôi.
Chiếc Concorde chạy về phía nhà kho lớn. Một xe bốc xếp hàng hóa và một chiếc xe tải của hãng El Al đang đợi sẵn trên sân bay.
— Ngài có muốn tôi... ? - Người viên chức lại lên tiếng.
Danny nắm lấy tay người viên chức lôi anh ta ra cửa. — Đi lo làm việc của anh đi - Danny từ tốn nói, đẩy nhẹ anh ra khỏi phòng.
Morton nhìn cánh cửa ở khoang chất hàng của chiếc Concorde mở ra. Chiếc xe bốc xếp chạy dọc theo máy bay để lấy hai chiếc quan tài. Hai chiếc quan tài trông nhỏ nhoi quá. Sau khi quan tài đã được đưa vào xe rồi, Morton rời khỏi cửa sổ. Có lẽ Steve và Dolly đã bỏ qua cho Raza khi hai người về đến quê nhà. Morton thấy ông vẫn không chấp nhận cái chết của hai người. Bởi thế mà ông không buồn phiền, ông không cảm thấy một cái gì lạ hết.
Hai giờ sau, ông bước theo hai quan tài ra giáo đường. Trên mỗi quan tài có phủ một lá cờ Israel. Hannah đi bên cạnh ông, cặp mắt bà sưng vù lên vì khóc quá nhiều cho đến khi không còn nước mắt để khóc nữa, chiếc áo dài rách tươm vì bà vật vã khóc thương. Bà nhìn đăm đăm về phía trước.
Karshov có mặt trong số những người khiêng quan tài, họ đều là những học giả tiếng tăm của Israel, đàn ông mặc cômlê đen, quàng khăn nguyện, họ khiêng quan tài trên vai đi đến huyệt gần bên ngôi mộ của Ruth.
Phía sau Morton là đại điện của chính quyền, của phe phái đối lập, và các thành viên trong Ban Hội đồng. Thấy thế, người ta mới biết ảnh hưởng của Steve sâu xa biết dường nào. Bạn bè thân thiết của Dolly đều có mặt ở đấy, những bà già đoan trang trùm khăn đen, nét mặt đầy đau khổ.
Bithurg có đến, ông nhìn vào đám chuyên viên truyền hình ra vẻ hài lòng. Đám tang những người chết vì bạo động thường thường được đưa lên hàng tin tức quan trọng. Bitburg đã nói rằng tin này nhắc nhở cho cả nước ghi nhớ.
Chantal và Laster Finel cũng có mặt, họ cùng đi với Cụ Gù và ông Giáo sư. Họ đến dự vì Morton.
Khi đã đến nghĩa trang, Danny bước tới trước, quàng hai tay ôm lấy vai Hannah. Morton nhìn Danny, ông nghĩ ông ta làm thế là đúng. Ông ta yêu mến dì Hannah cũng như yêu mến Steve và Dolly. Nhưng ông chỉ mải miết nghĩ đến câu thơ trong Thánh Kinh và Steve đã đọc cách đây nhiều năm rồi : "Rồi kẻ thù sẽ biết ta là Chúa tể khi ta giáng trả thù hận lên chúng".
Sau khi quan tài đã hạ huyệt, vị chủ lễ cất tiếng hát. Tiếng hát nhịp nhàng vút lên bao trùm lấy những người đi đưa đám, ru họ vào quá khứ, nhưng Morton thì không xao xuyến. Thầy chủ lễ quay qua nhìn ông. Mọi người đều im lặng.
Morton bước ra mép huyệt, và cũng như ông đã làm trước đây cho Ruth, ông đọc kinh Kadish cho Steve và Dolly, cuối cùng ông đọc cho ông, đọc cho bóng ma hiện ra trong ông đã lâu rồi.
Đọc xong đoạn kinh ngắn, Morton quỳ xuống nhặt lên một nắm đất thả vào trong huyệt.
Thế rồi, cũng như khi đi dự đám tang của Ruth, không nhìn ai, ông quay mình lại và lặng lẽ bỏ đi.
💬 Bình luận chương