Chương 104: Chương 31 - Phần 2
Chương 105: Chương 32
Anh đã đúng. Cô có lý do.
“Đó là một câu chuyện dài.”
“Anh có cả đêm cơ mà,” anh trả lời.
“Anh thật sự nghĩ là em có tài à?” cô khẽ hỏi.
“Thôi nào,” anh nói, vươn tay ra nắm lấy tay cô, “anh muốn chỉ cho em thấy cái này.”
Cô đứng lên và đi theo anh qua cửa tới phòng khách. Anh dừng lại ở trước lò sưởi và chỉ vào bức tranh treo bên trên. Cô há hốc mồm, kinh ngạc, ngạc nhiên vì đã không để ý đến nó từ trước, ngạc nhiên hơn vì nó lại ở đấy.
“Anh vẫn giữ nó ư?”
“Dĩ nhiên là anh giữ nó. Nó thật tuyệt vời.”
Cô nhìn anh nghi hoặc, và anh giải thích.
“Ngắm nó khiến anh cảm thấy mình còn sống. Thỉnh thoảng anh phải tỉnh dậy và sờ vào nó. Nó thật sống động – những hình khối, bóng, màu sắc. Anh đôi khi còn mơ thấy nó. Thật là tuyệt vời, Allie – anh có thể nhìn chăm chú nó hàng giờ.”
“Anh đùa đấy à?” cô sửng sốt.
“Anh chưa bao giờ đùa.”
Cô không nói gì.
“Em muốn nói với anh là trước đây chưa ai từng nói với em điều đó ư?”
“Thầy giáo của em có nói,” cuối cùng cô cũng nói, “nhưng hình như em không tin ông ấy.”
Anh biết chuyện không chỉ vậy. Allie nhìn đi chỗ khác rồi tiếp tục.
“Em vẽ từ nhỏ. Em đoán là khi lớn hơn một chút, em bắt đầu nghĩ mình vẽ giỏi. Em cũng thích vẽ. Em nhớ bức này em đã vẽ hồi mùa hè năm đó, mỗi ngày lại vẽ thêm, thay đổi nó khi mối quan hệ của chúng ta thay đổi. Em còn không nhớ đã bắt đầu vẽ nó như thế nào hoặc muốn nó trông ra sao, nhưng nó có liên quan đến việc này.
“Em còn nhớ đã không thể ngừng vẽ sau khi về nhà vào mùa hè đó. Em nghĩ đó là cách để em tránh nỗi đau lúc ấy em phải chịu. Dù sao thì cuối cùng khi vào đại học, em dã theo chuyên ngành mỹ thuật vì đó là việc em phải làm; em còn nhớ đã ngồi một mình hàng tiếng trong studio và thưởng thức từng phút một. Em yêu sự tự do mình cảm thấy khi sáng tạo, cái cách sự tự do ấy gây cảm xúc trong em để tạo ra thứ gì đó đẹp đẽ. Ngay trước khi em tốt nghiệp, thầy giáo của em, người tình cờ cũng là một nhà phê bình trên báo, bảo em rằng em có tài. Ông bảo em nên thử làm một nghệ sĩ xem sao. Nhưng em đã không nghe ông.”
Cô ngừng lại ở đó, cố tập trung những suy nghĩ của mình.
“Cha mẹ em không nghĩ một người như em kiếm sống bằng nghề vẽ là thích hợp. Một thời gian sau em ngừng vẽ. Đã hàng năm nay em không hề đụng đến cọ.”
Cô nhìn bức tranh chăm chú.
“Em có nghĩ mình sẽ vẽ lại không?”
“Em không chắc là em có thể vẽ được nữa. Đã lâu lắm rồi.”
“Em vẫn có thể, Allie. Anh biết em có thể. Em có một tài năng đến từ trong con người em, từ trái tim em, chứ không phải từ những ngón tay em. Thứ em có không bao giờ biến mất. Đó là thứ mà những người khác chỉ có thể mơ thấy thôi. Em là một nghệ sĩ, Allie.”
Những câu ấy thốt ra chân thành đến nỗi cô biết anh nói không phải để tỏ ra lịch sự. Anh thật sự tin vào khả năng của cô, và vì lý do nào đó điều ấy có ý nghĩa đối với cô hơn cô tưởng. Nhưng rồi có gì khác xảy ra, một thứ vô cùng mạnh mẽ.
Tại sao nó lại xảy ra, cô không bao giờ biết, nhưng đó là khi vực thẳm đã bắt đầu khép miệng lại với Allie, vực thẳm mà cô đã dựng lên trong cuộc đời để ngăn cách nỗi đau với niềm vui sướng. Và khi đó cô ngờ, có lẽ không vô thức, rằng điều này mang nhiều ý nghĩa hơn mức cô muốn thừa nhận.
Nhưng vào khoảnh khắc ấy, cô vẫn chưa hoàn toàn nhận ra nó, và cô quay sang đối diện anh. Cô vươn tay ra chạm vào tay anh, rụt rè, nhẹ nhàng, kinh ngạc rằng sau bao nhiêu năm như thế anh vẫn biết chính xác điều cô cần được nghe. Khi ánh mắt họ khóa chặt với nhau, cô lại một lần nữa nhận ra anh thật đặc biệt biết bao.
Và chỉ trong một khoảnh khắc sượt qua, một sợi thời gian mỏng mảnh treo lơ lửng trong không trung như những con đom đóm trên bầu trời mùa hè, cô tự hỏi có phải mình lại đang yêu anh.
Một tiếng ding báo hiệu thời gian đặt giờ lò nướng đã hết, Noah quay đi, phá vỡ khoảnh khắc ấy, những điều vừa xảy ra với họ tác động kỳ lạ đến anh. Đôi mắt cô nói chuyện với anh, thì thầm điều gì đó anh khao khát muốn nghe, vậy mà anh không thể ngừng giọng nói trong đầu anh, giọng nói của cô, giọng kể cho anh nghe về tình yêu của cô với một người đàn ông khác. Anh thầm nguyền rủa cái lò đặt giờ khi đi vào bếp và nhấc bánh mì ra khỏi đó. Anh suýt làm tay mình bỏng, đánh rơi ổ bánh trên bàn bếp và nhận ra chảo rán đã sẵn sàng. Thế rồi vừa lẩm bẩm với chính mình anh vừa lấy ít bơ từ ngăn lạnh ra, phết một ít lên bánh mì, và đun chảy một ít nữa để làm cua.
Allie theo anh vào bếp và hắng giọng.
“Em dọn bàn bây giờ nhé?”
Noah chỉ con dao cắt bánh, “Được chứ, đĩa ở đằng kia. Đồ dùng nhà bếp và khăn ăn ở kia. Lấy nhiều vào nhé – món cua có thể rất phiền phức, vì thế chúng ta cần nhiều khăn.” Anh không thể nhìn cô khi nói. Anh không muốn nhận ra mình đã nhầm về điều vừa mới xảy ra giữa họ. Anh không muốn đó là một nhầm lẫn.
Allie cũng đang phân vân về khoảnh khắc ấy và cảm thấy ấm lòng khi nghĩ về nó. Những câu anh nói lại vang lên trong đầu cô khi cô tìm thấy mọi thứ cần cho bàn ăn: đĩa, bộ dao nĩa, muối và tiêu. Khi cô dọn bàn xong, Noah đưa cô bánh mì và những ngón tay của họ thoáng chạm nhau.
Anh hướng sự chú ý của mình trở lại chiếc chảo rán và lật chỗ rau. Anh nhấc vung nồi hấp, thấy còn cầm thêm một phút nữa nên lại hấp tiếp. Lúc này anh đã trấn tĩnh hơn và lại quay lại với những câu chuyện gẫu dễ nói.
“Em đã bao giờ ăn cua chưa?”
“Một vài lần. Nhưng chỉ là xa lát cua thôi.”
Anh cười. “Thế thì em sắp có một cuộc phiêu lưu rồi đấy. Chờ chút nhé.” Anh biến mất lên gác một lát và quay lại với một chiếc sơ mi màu xanh hải quân cài cúc. Anh dang chiếc áo ra cho cô.
“Đây, mặc cái này vào. Anh không muốn váy em dây bẩn.”
Allie mặc chiếc áo và ngửi thấy mùi hương phảng phất trong đó – mùi của anh, rất đặc biệt, rất tự nhiên.
“Đừng lo,” anh nói khi thấy vẻ mặt của cô, “sạch mà.”
Cô cười. “Em biết. Chỉ là nó làm em nhớ lại cuộc hẹn đầu tiên của chúng ta thôi. Đêm đó anh không cho em mượn cái áo khoác của anh, còn nhớ không?”
Anh gật đầu. “Ừ, anh nhớ. Fin và Sarah đi cùng mình. Fin cứ huých khuỷu tay anh suốt dọc đường về nhà cha mẹ em, cố tìm cách làm anh nắm tay em.”
“Nhưng anh đã không nắm.”
“Ừ,” anh trả lời, lắc đầu.
“Tại sao?”
“Vì ngượng, chắc thế, hoặc là sợ, chẳng biết nữa.
Nguồn. .t.ừ. .site. .TruyenGiCungCo...com. Có vẻ như lúc đó mà làm thế thì không đúng đắn lắm.”
“Nghĩ lại, em thấy lúc đây anh khá e thẹn, đúng không?”
“Anh thích cụm từ ‘tự tin ngầm’ hơn,” anh nháy mắt đáp, và cô mỉm cười.
Món rau và lũ cua chín cùng một lúc. “Cẩn thận, nóng đấy,” anh nói khi đưa chúng cho cô, rồi họ ngồi đối diện nhau qua chiếc bàn gỗ. Nhận ra món trà vẫn còn trên bàn bếp, Allie đứng lên lấy. Sau khi chọ ít rau và bánh mì lên đĩa, Noah cho thêm một con cua, Allie ngồi một lúc, nhìn nó chằm chằm.
“Trông như con bọ ấy nhỉ.”
“Nhưng mà là một con bọ ngon,” anh nói. “Đây, để anh chỉ em cách ăn nhé.”
Anh làm mẫu thật nhanh, khiến cho việc đó trông dễ dàng, lấy chỗ thịt cua và để nó lên đĩa của cô. Còn Allie thì cả hai lần đầu đều bóp chỗ càng cua quá mạnh, và phải dùng tay để gỡ lớp mai ra khỏi chỗ thịt. Lúc đầu cô thấy khá vụng về, lo rằng anh sẽ nhìn thấy hết sự vụng về đó, nhưng rồi cô nhận ra đó chỉ là sự bất an của cô. Anh chẳng quan tâm đến những thứ như thế. Anh chẳng bao giờ như thế cả.
“Vậy Fin thì thế nào?”
Anh ngưng một giây rồi mới đáp.
“Fin chết trong chiến tranh. Tàu khu trục của cậu ấy trúng phải ngư lôi năm 43.”
“Em rất tiếc,” cô nói, “em biết anh ấy là một người bạn thân của anh.”
Giọng anh thay đổi, bây giờ hơi trầm hơn.
“Ừ. Dạo này anh rất hay nghĩ về cậu ấy. Anh nhớ nhất là lần cuối cùng gặp cậu ấy. Anh về nhà để chia tay trước khi tòng quân, rồi bọn anh tình cờ gặp lại nhau. Hồi đó cậu ấy đang làm ngân hàng, giống như cha cậu ấy trước kia. Suốt tuần sau đó bọn anh đã ở bên nhau. Đôi khi anh nghĩ chính anh đã thuyết phục cậu ấy tòng quân. Anh không nghĩ cậu ấy sẽ vào quân ngũ nếu không phải là anh sắp sửa đi lính.”
“Không phải vậy đâu,” cô nói, ân hận vì đã nhắc đến chủ đề này.
“Em nói đúng. Anh chỉ nhớ cậu ấy thôi.”
“Em cũng thích anh ấy. Anh ấy làm em cười.”
“Cậu ấy lúc nào cũng giỏi việc này.”
Cô nhìn anh tinh nghịch. “Anh ấy đã từng thích em đấy, anh biết không.”
“Anh biết. Cậu ấy kể cho anh nghe.”
“Vậy à? Anh ấy đã nói gì?”
Noah nhún vai. “Nói những gì cậu ấy vẫn nói thôi. Rằng cậu ấy phải cầm gậy xua em đi thôi. Rằng em đuổi theo cậu ấy thường xuyên, kiểu thế.”
Cô khẽ bật cười. “Anh có tin anh ấy không?”
“Dĩ nhiên,” anh đáp. “Tại sao không?”
“Mấy anh lúc nào cũng dính chặt với nhau,” cô vừa nói vừa vươn tay qua bàn, chọc ngón tay mình vào cánh tay anh. Cô tiếp tục. “Thế anh kể cho anh ấy nghe những gì đã xảy ra từ khi mình gặp nhau lần cuối đi.”
Họ bắt đầu nói chuyện, bù đắp lại quãng thời gian đã mất. Noah kể chuyện rời khỏi New Bern, chuyện làm việc ở xưởng tàu và ở bãi phế thải ở New Jersey. Anh trìu mến kể về Morris Goldman và kể sơ một chút về chiến tranh, tránh phần lớn các chi tiết, và kể cho cô nghe về cha anh và việc anh đã nhớ ông thế nào. Allie kể về chuyện đi học đại học, vẽ tranh, và những giờ cô l*m t*nh nguyện ở bệnh viện. Cô kể về gia đình và bạn bè mình, về những hoạt động từ thiện cô tham gia. Không ai trong hai người nhắc đến bất kỳ người nào mà họ đã hẹn hò kể từ lần cuối gặp nhau. Cả Lon cũng bị bỏ qua và mặc dù cả hai đều nhận ra sự bỏ qua này, không ai nhắc đến cả.
Rồi Allie cố gắng nhớ lại lần cuối cô và Lon nói chuyện như thế này. Mặc dù anh lắng nghe chăm chú và họ ít khi tranh cãi, anh không phải là kiểu người để nói chuyện thân mật. Cũng như cha anh, anh không thoải mái khi chia sẻ những suy nghĩ và cảm giác của mình. Cô đã cố giải thích rằng cô cần gần gũi hơn với anh, nhưng có vẻ như điều đó cũng chẳng bao giờ làm nên gì khác biệt.
Nhưng giờ ngồi nơi đây, cô đã nhận ra điều mình đang thiếu vắng.
Bầu trời sẫm tối hơn và mặt trăng nhô lên cao khi đêm muộn. Và dù cả hai đều không nhận ra, họ đều đã có lại được sự thân mật, mối liên kết của sự tương đồng mà một thời họ từng chia sẻ.
Họ ăn xong bữa tối, cả hai đều hài lòng với bữa ăn và giờ không trò chuyện nhiều nữa. Noah nhìn đồng hồ và thấy rằng trời đã khuya. Những vì sao đã mọc đủ, lũ dế im lặng hơn. Anh nói chuyện rất vui với Allie và tự hỏi có phải mình đã nói quá nhiều, tự hỏi liệu cô nghĩ gì về cuộc đời anh, hi vọng rằng dù sao nó cũng sẽ tạo nên một chút khác biệt, nếu có thể.
Noah đứng lên và đổ đầy nước vào ấm trà. Cả hai đã mang đĩa bát ra chậu rửa, lau sạch chiếc bàn, và anh rót ra thêm hai tách trà nóng, cho thêm cái túi trà vào.
“Lại ra hiên ngồi nhé?” anh hỏi, đưa cho cô tách trà, và cô đồng ý, đi trước. Anh vớ lấy một chiếc mền bông đề phòng cô bị lạnh, và chẳng mấy chốc họ đã yên vị lại chỗ cũ, mền bông đắp trên chân cô, những chiếc ghế lắc lư. Noah ngắm cô từ khóe mắt. Chúa ơi, cô ấy thật đẹp, anh nghĩ. Và sâu thẳm bên trong, anh thấy đau đớn.
Vì có điều gì đó đã xảy ra trong suốt bữa tối.
Khá đơn giản, anh lại yêu rồi. Giờ khi họ ngồi ngay cạnh nhau thì anh đã biết. Yêu một Allie mới, không chỉ ký ức về cô.
Anh chưa từng thật sự ngừng yêu cô, và, anh nhận ra, đó là số mệnh của mình.
“Một đêm tuyệt vời,” anh nói, giọng nhẹ nhàng hơn.
“Đúng thế,” cô nói, “một đêm tuyệt vời.”
Noah quay nhìn những vì sao, ánh sáng lấp lánh của chúng nhắc anh nhớ rằng cô sắp phải ra đi, và anh thấy lòng mình gần như trống trải. Đây là đêm anh muốn chẳng bao giờ kết thúc. Làm sao anh nói với cô đây? Anh có thể nói gì khiến cô ở lại?
Anh không biết. Nên anh quyết định không nói gì. Và lúc đó anh nhận ra là mình đã thất bại.
Những chiếc ghế đu đưa lắc lư theo một nhịp lặng lẽ. Lũ dơi lại bay trên sông. Bướm đêm lại hôn lên chiếc đèn hiên. Anh biết ở đâu đó người ta đang yêu nhau.
“Nói chuyện với em đi.” Cuối cùng cô nói, giọng xao xuyến. Hay là tâm trí anh đang lừa anh?
“Anh nên nói gì?”
“Nói như anh đã từng ở dưới cây sồi.”
Và anh đã làm thế, đọc lại những vần thơ ngày xưa, uống mừng cho đêm đó. Withman và Thomas, vì anh yêu những hình ảnh trong thơ họ. Tennyson và Browning, vì những chủ đề của họ nghe thật gần gũi.
💬 Bình luận chương